Nhiều luật mới có hiệu lực từ tháng 7/2015

Từ 1/7/2015, nhiều luật sẽ có hiệu lực thi hành như Luật Nhà ở; Luật Kinh doanh bất động sản; Luật Công an Nhân dân; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Doanh nghiệp; Luật Đầu tư; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam...

Thu hẹp nhà ở công vụ, mở rộng đối tượng nhà ở xã hội; người nước ngoài được sở hữu nhà ở Việt Nam, rút ngắn thủ tục về đầu tư... là những quy định có hiệu lực từ 1/7.

Từ 1/7/2015, nhiều luật sẽ có hiệu lực thi hành như Luật Nhà ở; Luật Kinh doanh bất động sản; Luật Công an Nhân dân; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; Luật Doanh nghiệp; Luật Đầu tư; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hàng không dân dụng Việt Nam...

Luật Nhà ở (sửa đổi): Người nước ngoài được mua nhà

Sau rất nhiều tranh cãi thì cuối cùng, theo Luật Nhà ở mới, các quỹ đầu tư nước ngoài, người nước ngoài với visa phù hợp, các công ty quốc tế hoạt động tại Việt Nam và người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ được phép mua nhà tại Việt Nam.

Luật cũng không có quy định nào giới hạn về số lượng căn hộ, nhà mà người nước ngoài có thể mua; tuy nhiên, tổng số căn hộ lưu trú mà người nước ngoài sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà ở biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có số dân tương đương một đơn vị hành chính cấp phường chỉ được mua, thuê mua và sở hữu không quá 250 căn nhà.

Ngoài ra, Luật còn quy định cụ thể 10 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở và bổ sung quy định khuyến khích hộ gia đình, cá nhân tham gia phát triển nhà ở; hướng thu hẹp đối tượng được nhà công vụ.

chính sách, hiệu lực, từ 1/7, Luật Kinh doanh BĐS, Luật Đầu tư, Luật Nhà ở, sửa đổi, chính-sách, hiệu-lực, từ-1/7, Luật-Kinh-doanh-BĐS, Luật-Đầu-tư, Luật-Nhà-ở, sửa-đổi

Luật Nhà ở quy định cụ thể 10 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở

Luật Kinh doanh BĐS (sửa đổi): Thanh lọc để lành mạnh

Với 6 chương, 82 điều, Luật Kinh doanh bất động sản đưa ra nhiều yêu cầu mới để lành mạnh hoá thị trường BĐS hiện nay.

Cụ thể, Luật mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh bất động sản cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; đồng thời để bảo vệ quyền lợi của khách hàng khi mua, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai, nhất là đối với bất động sản là nhà ở.

Luật cũng quy định, muốn kinh doanh BĐS phải có số vốn pháp định ít nhất là 20 tỷ đồng, thay vì 6 tỷ đồng như trước đây. Ngoài ra, vốn tự có không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư dự án dưới 20 ha và không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư dự án từ 20 ha trở lên.

Luật Doanh nghiệp (sửa đổi): Tự do kinh doanh ngành nghề luật không cấm

Với 10 chương, 172 điều, Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) lần này được ghi nhận là có nhiều thay đổi đột phá, đó là thể chế hóa một cách đầy đủ quyền kinh doanh của doanh nghiệp theo Hiến pháp: Doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà Luật không cấm.

Một trong những thay đổi quan trọng khác trong sửa đổi Luật Doanh nghiệp lần này là việc đăng ký kinh doanh sẽ có thay đổi căn bản theo hướng không quy định ghi ngành, nghề kinh doanh trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, còn một số điểm mới như doanh nghiệp có quyền tự quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu. Doanh nghiệp dùng 10 lao động trở lên phải thành lập doanh nghiệp.

Luật Đầu tư (sửa đổi): Bỏ nhiều thủ tục rối rắm

Luật Đầu tư có 7 chương, 76 điều, quy định về hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và đầu tư kinh doanh từ Việt Nam ra nước ngoài.

Điểm mới quan trọng nhất trong Luật Đầu tư là bỏ thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với tất cả các dự án đầu tư trong nước; đơn giản hóa hồ sơ, trình tự, thủ tục, rút ngắn thời gian cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà thầu nước ngoài (từ 45 ngày theo Luật Đầu tư 2005 xuống còn 15 ngày).

Một thay đổi khác đáng ghi nhận là tiếp cận phương pháp mới chọn - bỏ: những gì cấm thì ghi vào trong luật, không ghi có nghĩa là được quyền làm. Chẳng hạn, Luật đầu tư (sửa đổi) quy định cấm đầu tư kinh doanh ma túy; hóa chất, khoáng vật; mẫu vật các loại thực vật, động vật hoang dã; mại dâm; mua, bán người, mô, bộ phận cơ thể người; sinh sản vô tính trên người.

Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp

Với mục đích giám sát vốn Nhà nước sao cho hiệu quả khi đầu tư vào doanh nghiệp, đối tượng áp dụng của Luật gồm 4 nhóm: Đại diện chủ sở hữu nhà nước; DN do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; Người đại diện phần vốn nhà nước và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Với 10 chương, Luật quy định rất cụ thể mục đích, nguyên tắc, trình tự, các hành vi bị cấm khi đầu tư vốn Nhà nước vào các DN, trong đó nói rõ trách nhiệm của các bên tham gia đầu tư, giám sát vốn Nhà nước, có khen thưởng kỷ luật đảm bảo vốn Nhà nước kinh doanh có lãi, không bị thua lỗ, thất thoát.

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của các Luật thuế: DN “dễ thở”

Theo luật mới, mức trần khống chế doanh nghiệp chỉ chi quảng cáo 15% theo quy định của pháp luật hiện hành đã được Quốc hội bãi bỏ. Thuế thu nhập cá nhân đối với người có thu nhập từ trúng thưởng trong casino cũng đã được Quốc hội quyết định bãi bỏ.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt đã quyết định tăng thuế suất đối với người kinh doanh casino từ 30% lên 35%.

Luật Hàng không Dân dụng (sửa đổi): Khách đỡ lo khi bị chậm, hủy chuyến

Tránh tình trạng độc quyền ở sân bay để bán giá đắt đỏ cho hành khách đi máy bay, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định Nhà nước định giá đối với các dịch vụ hàng không và một số dịch vụ, một số dịch vụ phi hàng không thiết yếu.

Đáng lưu ý, Luật bổ sung quy định về nghĩa vụ của các hãng hàng không trong việc đảm bảo chất lượng dịch vụ, đặc biệt khi chuyến bay bị chậm, huỷ chuyến.

Theo quy định mới, từ 1/7, mức bồi thường đối với hành khách bay nội địa sẽ được tăng thêm 100.000 đồng, cụ thể, chuyến bay có độ dài đường bay dưới 500 km: 200.000 đồng; chuyến bay có độ dài đường bay từ 500km đến dưới 1.000 km: 300.000 đồng; chuyến bay có độ dài đường bay từ 1.000 km trở lên: 400.000 đồng.

Luật Giáo dục nghề nghiệp: Kỳ vọng nguồn nhân lực tay nghề cao

Khi Luật Giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực từ 1/7, sẽ thống nhất hệ thống 3 cấp trình độ dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp và trường cao đẳng nghề thành một hệ thống gồm 3 trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.

Luật cũng đưa ra nhiều hình thức thu hút học nghề đối với những người tốt nghiệp THCS, chính sách với người khuyết tật,... hy vọng nguồn nhân lực có kỹ thuật, tay nghề cao tới đây sẽ dồi dào, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.

Điều chỉnh quy định phong hàm sĩ quan quân đội, công an

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam và Luật Công an nhân dân (sửa đổi) đều có những thay đổi về việc thăng quân hàm cấp tướng.

Luật Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam sửa đổi 2014 quy định rõ, thời hạn xét thăng quân hàm cấp tướng đối với sĩ quan tại ngũ tối thiểu là 4 năm đối với các trường hợp sau: Đại tá lên thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân; thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân lên trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân; trung tướng, Phó Đô đốc Hải quân lên thượng tướng, Đô đốc Hải quân; thượng tướng, Đô đốc Hải quân lên đại tướng.

Sĩ quan tại ngũ xét thăng quân hàm từ cấp bậc đại tá lên thiếu tướng, Chuẩn Đô đốc Hải quân không quá 57 tuổi, trừ trường hợp có yêu cầu của Chủ tịch nước.

Trình tự, thủ tục phong, thăng, giáng, tước quân hàm đối với sĩ quan: Thủ tướng trình Chủ tịch nước phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, Chuẩn Đô đốc, Phó Đô đốc, Đô đốc Hải quân. Đối với sĩ quan cấp tá, cấp úy và nâng lương sĩ quan: trình tự, thủ tục phong, thăng, giáng, tước do Bộ trưởng Quốc phòng quy định.

Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định chặt chẽ, cụ thể các vị trí, chức vụ của sĩ quan CAND có cấp bậc hàm cao nhất là cấp tướng (kể cả chức vụ cơ bản và chức vụ, chức danh tương đương).

Luật quy định rõ về cấp bậc hàm cao nhất trong CAND, quy định tại điều 24. Theo đó, cấp bậc hàm cao nhất trong CAND là Bộ trưởng Bộ Công an, có trần cấp bậc hàm đại tướng. Cấp bậc hàm cao nhất thượng tướng quy định đối với Thứ trưởng Bộ Công an (số lượng không quá sáu thượng tướng).

Giám đốc Công an Hà Nội và TP HCM là trung tướng. Cục trưởng 6 cục gồm An ninh mạng; Cảnh sát giao thông; Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Đối ngoại; Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp; Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ có trần cấp bậc hàm là trung tướng..

Các vị trí, chức vụ cấp phó có trần cấp bậc hàm thiếu tướng được quy định rõ số lượng. Luật cũng quy định cụ thể các chức vụ có trần cấp bậc hàm từ đại tá trở xuống.

Luật mới quy định Công an nhân dân gồm lực lượng An ninh nhân dân, lực lượng Cảnh sát nhân dân và Công an xã. Luật cũ chỉ quy định có 2 lực lượng là An ninh nhân dân và Cảnh sát nhân dân.

Học sinh, sinh viên của các trường CAND khi tốt nghiệp được phong cấp bậc hàm như sau, trung cấp phong trung sĩ; cao đẳng phong thượng sĩ; đại học phong thiếu úy. Trường hợp tốt nghiệp loại xuất sắc được phong cao hơn một bậc. 

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 429

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.