Nhiều ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Tổ chức Viện KSND và dự thảo Luật Tổ chức TAND

Đa số các ý kiến đều nhất trí với việc cần sớm sửa đổi, ban hành Luật Tổ chức Viện KSND (sửa đổi) và Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) nhằm đảm bảo cụ thể hóa các quan điểm của Đảng về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện KSND và TAND, trên cơ sở kế thừa phát huy ưu điểm của Luật hiện hành, phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu trong cải cách tư pháp, giải quyết những vấn đề bất cập, tồn tại trong thực tiễn, giúp cơ quan chuyên môn thực thi hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng với tình hình phát triển chung của đất nước.

Chiều 28/8/2014, Đoàn ĐBQH TP đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo: Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (sửa đổi) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi).

Đa số các ý kiến đều nhất trí với việc cần sớm sửa đổi, ban hành Luật Tổ chức Viện KSND (sửa đổi) và Luật Tổ chức TAND (sửa đổi) nhằm đảm bảo cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Viện KSND và TAND, trên cơ sở kế thừa phát huy ưu điểm của Luật hiện hành, phù hợp với các quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu trong cải cách tư pháp, giải quyết những vấn đề bất cập, tồn tại trong thực tiễn, giúp cơ quan chuyên môn thực thi hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng với tình hình phát triển chung của đất nước.

Phó Trưởng đoàn Chu Sơn Hà tiếp thu các ý kiến đóng góp vào hai dự án luật 

Góp ý vào dự thảo Luật Tổ chức Viện KSND (sửa đổi), về chức năng thực hành quyền công tố (Điều 3), Tiến sỹ Phạm Mạnh Hùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội đề nghị: “Mở rộng phạm vi quy định tại Khoản 1: “…được thực hiện ngay từ khi phát hiện dấu hiệu của tội phạm và trong suốt quá trình…”. Bởi lẽ trong thực tế hiện nay, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm. Dấu hiệu tội phạm được xác định dựa trên cơ sở tố giác, tin báo về tội phạm. Trước khi khởi tố, Viện KSND cũng đã tham gia vào các hoạt động tố tụng như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp…Đây là hoạt động của Viện để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, nghĩa là thực hiện nội dung của quyền công tố”.

Về hệ thống Viện KSND (Điều 38), một số ý kiến nhất trí phương án 1, theo mô hình Viện KSND khu vực để bảo đảm đồng bộ với việc tổ chức TAND sơ thẩm khu vực, tăng cường tính độc lập của Viện KSND trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ; một số ý kiến đồng ý với phương án 2 tiếp tục giữ mô hình tổ chức Viện KSND cấp huyện như hiện nay để thực hiện chủ trương tăng cường trách nhiệm công tố, gắn công tố với hoạt động điều tra, tăng cường kiểm sát thi hành án. Theo ông Nguyễn Quang Thành, Viện trưởng Viện KSND Thành phố “nhất trí với dự thảo về việc thành lập hệ thống Viện KSND gồm 4 cấp theo đúng tinh thần cải cách tư pháp đã đề ra tại Kết luận số 79 và Kết luận số 92 của Bộ Chính trị, đồng ý với phương án 2 về tổ chức hệ thống Viện KSND cấp thứ 4 là các Viện KSND cấp huyện để phù hợp với hệ thống cơ quan điều tra, tòa án cấp huyện...”.

Về Ủy ban kiểm sát Viện KSND tối cao, Ủy ban kiểm sát Viện KSND cấp cao, Ủy ban kiểm sát Viện KSND cấp tỉnh (Điều 41, 43, 45), Phó Chủ tịch Hội luật gia Thành phố Tô Thị Thanh Hương nhất trí với “qui định tại các khoản 3 (Điều 41), khoản 4 (Điều 43), khoản 4 (Điều 45) qui định chức năng của Ủy ban kiểm sát các cấp có trách nhiệm thảo luận và cho ý kiến về các vụ hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phức tạp. Tuy nhiên cần lượng hóa ngay trong dự luật thế nào là vụ việc phức tạp để tránh tình trạng Ủy ban kiểm sát phải cho ý kiến vào quá nhiều vụ việc làm hạn chế tính độc lập, chủ động của Kiểm sát viên”.

Góp ý vào Điều 2 của dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi), ông Nguyễn Đức Bình, Chánh án TAND Thành phố cho rằng “Tại khoản 1 Điều 2 của dự thảo qui định: TAND là cơ quan xét xử của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, đây là qui định có nội dung có tính bước ngoặt quan trọng thể hiện Tòa án là cơ quan trung tâm của hoạt động tư pháp, bên cạnh là cơ quan xét xử, còn là cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Tuy nhiên qui định trên còn chung chung, chưa cụ thể, chưa nêu khái quát việc thực hiện quyền tư pháp trong giai đoạn nào của hoạt động tố tụng”.

Giáo sư, Tiến sỹ  Thái Vĩnh Thắng  Chủ nhiệm khoa Pháp luật hành chính nhà nước Trường Đại học Luật Hà Nội đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 2 quy định Tòa án nhân dân có nhiệm vụ “bảo vệ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” cho phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013, ông cho rằng “án lệ” có vai trò quan trọng trong trong công tác xét xử do đó tán thành với quy định tại Điều 22 “tổng kết phát triển án lệ để các Tòa án nghiên cứu áp dụng thống nhất trong xét xử”.

Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, ông Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn đã tiếp thu và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật Tổ chức Viện KSND (sửa đổi) và Luật Tổ chức TAND (sửa đổi), trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 396

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.