Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết bội chi ngân sách nhà nước năm 2016

Sáng ngày 12/6, với 95,48% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2016. Theo đó, Quốc hội đồng ý tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.407.572 tỷ đồng bao gồm cả số thu chuyển nguồn từ năm 2015 sang năm 2016, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2015, thu huy động đầu tư của ngân sách địa phương và thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002.

Sáng ngày 12/6, với 95,48% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2016.

Theo đó, Quốc hội đồng ý tổng số thu cân đối ngân sách nhà nước là 1.407.572 tỷ đồng bao gồm cả số thu chuyển nguồn từ năm 2015 sang năm 2016, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2015, thu huy động đầu tư của ngân sách địa phương và thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002.

Tổng số chi cân đối ngân sách nhà nước là 1.574.448 tỷ đồng, bao gồm cả số chi chuyển nguồn từ năm 2016 sang năm 2017. Bội chi ngân sách nhà nước là 248.728 tỷ đồng (hai trăm bốn mươi tám nghìn, bảy trăm hai mươi tám tỷ đồng), bằng 5,52% tổng sản phẩm trong nước (GDP).

Nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước gồm: Vay trong nước 197.165 tỷ đồng (một trăm chín mươi bảy nghìn, một trăm sáu mươi lăm tỷ đồng); vay ngoài nước 51.563 tỷ đồng (năm mươi mốt nghìn, năm trăm sáu mươi ba tỷ đồng).

Trước đó, trong báo cáo tiếp thu, giải trình về quyết toán ngân sách nhà nước năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải cho biết, có ý kiến của đại biểu Quốc hội lo ngại các doanh nghiệp FDI tăng trưởng khá nhưng tỷ lệ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bình quân thực tế chỉ đạt khoảng 10,5%. Các đại biểu yêu cầu Chính phủ cần nghiên cứu đề xuất giải pháp để xử lý vấn đề này. 

Tiếp thu ý kiến này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp thu ý kiến ĐB Quốc hội, chỉ đạo rà soát, đánh giá hiệu quả việc thực hiện các ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các chính sách thu phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng công tác quản lý việc thu, nộp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Theo Chủ nhiệm Nguyễn Đức Hải, về chi ngân sách Nhà nước, trước ý kiến băn khoăn về cơ cấu chi ngân sách chưa phù hợp, chi thường xuyên vẫn còn cao (chiếm 63,5% tổng chi NSNN), chi đầu tư tăng chậm, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ tiếp tục kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, thực hiện triệt để việc tiết kiệm chi thường xuyên, tăng nguồn lực cho đầu tư phát triển, đảm bảo cơ cấu chi theo mục tiêu đặt ra cho cả giai đoạn 2016-2020. Với các khoản chi sai chế độ, định mức, không đúng mục đích, một số khoản chi quan trọng không đạt dự toán, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu Chính phủ rà soát, sửa đổi, bổ sung các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách nhà nước cho phù hợp; tiếp tục triển khai và cụ thể hóa các quy định bảo đảm công khai, minh bạch, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; xử lý nghiêm, rõ ràng, minh bạch các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu.

Về bội chi NSNN và nợ công, theo Chủ nhiệm Nguyễn Đức Hải, có ý kiến cho rằng, tỷ lệ bội chi ngân sách/GDP năm 2016 cao hơn tỷ lệ Quốc hội cho phép, ảnh hưởng đến nợ công. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho rằng, mặc dù số bội chi năm 2016 thấp hơn dự toán nhưng do GDP không đạt kế hoạch (giảm khoảng 600 nghìn tỷ đồng) nên tỷ lệ bội chi tính trên GDP (5,52%GDP) cao hơn tỷ lệ Quốc hội cho phép (4,95% GDP) chưa kể số nợ bảo hiểm xã hội 22.090 tỷ đồng, đồng thời tỷ lệ nợ công trên GDP tiếp tục tăng lên (63,71%), tuy nhiên, sang năm 2017 đã được kiểm soát tốt hơn, tỷ lệ nợ công trên GDP giảm còn 61,4%. 

Vì vậy, để bảo đảm giữ mức bội chi hàng năm, giảm áp lực gia tăng nợ công, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ cần dự báo, tính toán GDP sát thực tế; trong điều hành cần bám sát dự toán, ưu tiên sử dụng tăng thu, tiết kiệm chi để giảm bội chi NSNN, bảo đảm bội chi NSNN hàng năm trong phạm vi đã được Quốc hội quyết định cả số tuyệt đối và tỷ lệ phần trăm (%), đảm bảo mục tiêu giai đoạn 2016-2020 bội chi NSNN khoảng 3,9%GDP, dư nợ công trong mức giới hạn cho phép. Trường hợp dự báo tăng trưởng GDP không đạt kế hoạch cần chủ động điều chỉnh các nhiệm vụ chi phù hợp để bảo đảm tỷ lệ bội chi trên GDP theo Nghị quyết của Quốc hội.

Lượt xem: 748

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.