Quốc hội sẽ quyết định việc có nên sửa hay không nên sửa Điều 60 Luật BHXH - Cân nhắc phạm vi trưng cầu ý dân

Điều 60 được thiết kế theo hướng khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đã đóng BHXH, tích lũy thời gian đóng BHXH trong quá trình lao động để có thể hưởng lương hưu hàng tháng nhằm bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động thay vì nhận BHXH một lần. Điều 60 Luật BHXH vừa sửa đổi đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ BHXH, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội...

Ngày làm việc 12-5 tại Phiên họp thứ 38, UBTVQH đã xem xét báo cáo của Chính phủ về kiến nghị điều chỉnh Điều 60 luật Bảo hiểm xã hội sau vụ việc người lao động ngừng việc để bày tỏ quan điểm không đồng tình với quy định tại điều này.

Báo cáo do Bộ trưởng LĐ, TB&XH Phạm Thị Hải Chuyền đọc nhận định: Theo quy định tại Luật BHXH 2006, người lao động sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng BHXH và có yêu cầu nhận BHXH một lần mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH thì được giải quyết BHXH một lần.

"Việc giải quyết BHXH một lần tuy tạo điều kiện cho người lao động có thêm thu nhập trang trải cuộc sống trước mắt nhưng khi về già không có lương hưu để bảo đảm cuộc sống sẽ khó khăn cho bản thân người lao động, gia đình và xã hội", bà Chuyền nói.

Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền báo cáo trước UBTVQH

Do đó, khi sửa luật năm 2014, Điều 60 được thiết kế theo hướng khuyến khích người lao động bảo lưu thời gian đã đóng BHXH, tích lũy thời gian đóng BHXH trong quá trình lao động để có thể hưởng lương hưu hàng tháng nhằm bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động thay vì nhận BHXH một lần.

"Khi người lao động vẫn còn trong độ tuổi lao động mà nghỉ việc thì tạm thời chưa giải quyết BHXH một lần mà thực hiện bảo lưu thời gian đóng BHXH để người lao động tiếp tục tham gia BHXH bắt buộc hoặc BHXH tự nguyện, được tính cộng dồn thời gian đã tham gia để được hưởng lương hưu khi về già", Bộ trưởng phân tích.

Điều 60 Luật BHXH vừa sửa đổi đã thể hiện đúng quan điểm, định hướng mở rộng diện bao phủ BHXH, bảo đảm quyền thụ hưởng lâu dài của người lao động, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, bà Nguyễn Thị Hải Chuyền khẳng định.

Nhưng khi luật chưa đến ngày có hiệu lực (1/1/2016) thì xảy ra sự việc ngày 26/3/2015,công nhân Công ty TNHH Pouyuen Việt Nam (100% vốn Đài Loan, có trụ sở tại quận Bình Tân, TP.HCM) và một số doanh nghiệp ở Long An, Tây Ninh, Tiền Giang, đã ngừng việc do không đồng tình với quy định tại Điều 60, và kiến nghị được lựa chọn hưởng BHXH một lần hoặc bảo lưu thời gian đóng BHXH như quy định tại luật năm 2006.

Do đó, CP kiến nghị QH điều chỉnh Điều 60 như quy định trong luật năm 2006.

Cơ quan thẩm tra, UB các vấn đề xã hội QH đồng tình nên xem xét nhu cầu này của một bộ phận người lao động cho phù hợp với thực tế. UB này đưa ra hai hướng xử lý là sửa Điều 60 như kiến nghị của CP hoặc giao CP ra văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách này.

Nhưng UB này cũng cảnh báo việc điều chỉnh sẽ làm tăng số người không có lương hưu khi về già, đồng thời, về lâu dài, nhà nước phải tăng chi từ ngân sách cho chính sách đối với người cao tuổi không có lương hưu.

Thảo luận kiến nghị này, trong UB Thường vụ QH có nhiều ý kiến khác nhau. Phó Chủ tịch QH Nguyễn Thị Kim Ngân cho rằng sự việc xảy ra ở Pouyuen là đáng tiếc, nhưng cần bình tĩnh xem xét để đưa ra quyết sách đúng đắn. "Tại sao chỉ có một bộ phận công nhân ở một doanh nghiệp, một khu vực, chứ không phải tất cả công nhân lao động trên toàn quốc? Bộ phận đó có đại diện cho công nhân cả nước đều muốn lãnh một lần không?", bà Ngân đặt vấn đề.

Phó Chủ tịch QH, vốn là Bộ trưởng LĐ, TB&XH, nhắc lại bài học thực tế về "chế độ 176" năm 1989: 35 vạn người đã tự nguyện nhận trợ cấp thôi việc một lần, nhưng chỉ 3 năm sau, nhiều người yêu cầu được trả lại và xin hưởng hưu trí. 20 năm sau, vẫn còn nhiều người gọi 176 một cách nặng nề là "nhà nước vắt chanh bỏ vỏ".

Bà Nguyễn Thị Kim Ngân bày tỏ không hài lòng việc một số ĐBQH phát biểu trên truyền thông đại chúng rằng họ đã không nhận thức đầy đủ vấn đề khi bấm nút. Bà khẳng định Điều 60 luật BHXH sửa đổi phù hợp với định hướng lâu dài, "là cái lưới đảm bảo không người dân nào rơi xuống tận cùng xã hội", vấn đề là nằm ở tuyên truyền, giải thích luật.

Phó Chủ tịch QH Tòng Thi Phóng cũng lo người lao động sẽ bị thiệt, vì nếu chỉ đóng BHXH một vài năm đã rút thì không còn là quan hệ bảo hiểm, mà là quan hệ dân sự, sau khi người lao động rút ra thì có còn tiếp tục được bảo vệ.

Chủ nhiệm UB Khoa học Công nghệ và Môi trường QH Phan Xuân Dũng lưu ý "luật là cho tất cả mọi người lao động", trong khi Chủ nhiệm UB Tài chính Ngân sách Phùng Quốc Hiển nhận định Điều 60 là "lo cho dân khi họ ốm đau, bệnh tật, chứ không phải là khi họ khỏe mạnh, giống như mũ bảo hiểm là để phòng lúc tai nạn". Ông Hiển đồng tình đưa ra QH thảo luận, nhưng vẫn thấy "sửa là điều đáng tiếc".

Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu thấy do luật chưa có hiệu lực, vẫn còn thời gian để tuyên truyền, giải thích. "Đến khi thi hành rồi mà có bất cập nảy sinh mà hôm nay chưa lường được thì đem ra sửa cũng chưa muộn", ông Lưu nói.

Nhưng Phó Chủ tịch QH Huỳnh Ngọc Sơn lại có ý kiến khác: Công nhân phản ứng không phải với Điều 60, mà là với việc một chính sách đang thực hiện tốt (thôi việc có thể nhận BHXH một lần) lại đem ra sửa bỏ đi. "Người ta không đồng tình cái mới, muốn quay lại cái cũ", ông Sơn giải thích và cho rằng nếu cần sửa thì nên sửa sớm hơn là muộn.

Chủ nhiệm UB Quốc phòng An ninh QH Nguyễn Kim Khoa cũng lưu ý sự việc ở Pouyuen là phức tạp: Chính phủ đã hứa là sẽ sửa, nếu QH không bàn việc này thì sẽ có chuyện bất ổn, trong khi chính nhiều ĐBQH cũng chưa hiểu thấu đáo quy định này.

Chủ tịch HĐ Dân tộc Ksor Phước còn nhận định đây là lần đầu tiên trong lịch sử QH VN, từ 1946 đến nay, một bộ phận công nhận công khai phản đổi thẳng vào một điều luật còn chưa thì hành.

"Chính phủ đã nhìn ra vấn đề này, QH phải lắng nghe và thảo luận, kết hợp tuyên truyền, đưa ý kiến các nhà khoa học, người có kinh nghiệm, để dân hiểu", ông Phước nói.

Chủ nhiệm UB Pháp luật QH Phan Trung Lý cũng nhận định không nên né tránh việc này, nếu cần sửa luật thì kể cả chưa thi hành vẫn có thể đem ra sửa. Ông Lý cho rằng nên để QH quyết định việc này.

Ý kiến của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng là: Nếu đúng là luật không tốt, QH sẵn sàng nhận khuyết điểm trước dân và sửa ngay. Còn nếu là do tuyên truyền, giải thích luật chưa tốt, phản ứng của công nhân là do đụng chạm lợi ích trước mắt, hay các nguyên nhân khác, thì phải xem xét.

Kết luận phiên thảo luận, Phó Chủ tịch QH Tòng Thị Phóng yêu cầu Bộ trưởng Nguyễn Thị Hải Chuyền chuẩn bị báo cáo về sự việc Pouyuen và tờ trình chính thức về sửa đổi luật để thay mặt Chính phủ trình QH tại kỳ họp tới. UB các vấn đề xã hội cũng phải có quan điểm chính thức của cơ quan thẩm tra. Sửa hay không sửa Điều 60 sẽ do QH quyết định. Đồng thời tiếp tục đối thoại, tuyên truyền, giải thích, vận động để công nhân thực hiện đúng luật.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu tại Phiên họp

* Cho ý kiến về dự án Luật Trưng cầu ý dân: Cân nhắc phạm vi trưng cầu ý dân

Tờ trình dự án Luật Trưng cầu ý dân do Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam Nguyễn Văn Quyền trình bày nêu rõ, việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là cần thiết để kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. 

Việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân còn tạo khuôn khổ pháp lý cho người dân tham gia chủ động, tích cực, đông đảo và quyết định vào các công việc của Nhà nước và xã hội phù hợp với bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. 

Việc ban hành Luật Trưng cầu ý dân là cần thiết, để người dân trực tiếp thể hiện ý chí và quyền lực của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước, đáp ứng nhu cầu khách quan trong sự nghiệp đổi mới đất nước; đồng thời tạo điều kiện để nhân dân có thể tham gia sâu hơn, có tính quyết định với tư cách chủ thể vào những vấn đề quan trọng của đất nước, xây dựng đất nước công bằng, dân chủ, văn minh, góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

Dự thảo Luật Trưng cầu ý dân gồm 9 chương, 56 Điều. Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật cũng khẳng định, việc ban hành Luật trưng cầu ý dân là cần thiết nhằm kịp thời cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013, tạo cơ sở pháp lý cho người dân tham gia vào các công việc của Nhà nước, trực tiếp thể hiện quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề quan trọng của đất nước.

Qua thảo luận, đa số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội tán thành sự cần thiết ban hành Luật Trưng cầu ý dân. Nhiều ý kiến cũng cho rằng, đây là vấn đề mới, Việt Nam chưa có kinh nghiệm thực tiễn, do đó việc xây dựng Luật Trưng cầu ý dân phải gắn với thực tiễn, phù hợp với thể chế chính trị đất nước cũng như điều kiện kinh tế-xã hội và cuộc sống của nhân dân.

Tại Điều 6, dự thảo Luật đưa ra 2 phương án quy định về những vấn đề đề nghị Quốc hội trưng cầu ý dân. Cụ thể: “Phương án 1: Những vấn đề đề nghị Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân là những vấn đề về Hiến pháp và những vấn đề quan trọng khác thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Phương án 2: Những vấn đề đề nghị Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân gồm: 1. Những vấn đề về sửa đổi Hiến pháp. 2. Những chính sách quan trọng có liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. 3. Quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quan trọng. 4. Những vấn đề quan trọng khác thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội.”

Về vấn đề này, Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn cho rằng, thực chất 2 phương án trên là một. Vì cả 2 phương án đều chốt lại những vấn đề quan trọng khác thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Do đó, dự thảo không nhất thiết phải ghi 2 phương án.

Cũng theo Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn, tại khoản 15, Điều 70, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã quy định Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân và Khoản 4 Điều 120, quy định việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định. Do đó, điều này chúng ta cần khẳng định theo Hiến pháp và không cần làm nhiều phương án.

Về phạm vi trưng cầu ý dân (Điều 7), nhiều ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cần cân nhắc thêm. Bởi Hiến pháp chỉ quy định trưng cầu ý dân là thuộc Quốc hội, chứ chưa cụ thể về quy mô trưng cầu ý dân là toàn quốc hay trường hợp ở những vùng, miền. Một số ý kiến cũng cho rằng, có những việc không cần trưng cầu ý dân cả nước như: Việc tách tỉnh, xây dựng nhà máy điện hạt nhân… nếu đưa ra thì rất tốn kém và cũng không hiệu quả. Do đó, Ban soạn thảo cân nhắc thêm chứ không nhất thiết việc gì cũng trưng cầu ý dân toàn quốc.

Lượt xem: 512

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.