Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi)

Sáng 24-5, tiếp theo chương trình của Kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội khóa XIV, Quốc hội làm việc tại hội trường, nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Sáng 24-5, tiếp theo chương trình của Kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội khóa XIV, Quốc hội làm việc tại hội trường, nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi). Sau đó, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật này. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều hành nội dung phiên họp.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Hội trường (nguồn Quochoi.vn)

Tại phiên thảo luận đã có 19 đại biểu phát biểu ý kiến và 04 đại biểu phát biểu tranh luận tại hội trường về dự án Luật. Theo đó, đa số ý kiến đại biểu bày tỏ sự nhất trí cao với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đồng thời đóng góp ý kiến vào các nội dung cụ thể của dự thảo Luật như quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế; các điều cấm; vấn đề khai thuế, tính thuế, ấn định thuế, nộp thuế, xóa nợ thuế; công tác kiểm tra, thanh tra thuế, xử phát vi phạm thuế. Một số ý kiến góp ý về kỹ thuật xây dựng văn bản, tính thống nhất, tính cụ thể của dự thảo Luật.

Góp ý vào nội dung cụ thể của dự thảo Luật, đại biểu Trần Văn Tiến – Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Phúc, đề nghị các nguyên tắc quản lý thuế cần phải khái quát hóa cao nhằm xác định trách nhiệm nghĩa vụ đóng thuế cho mọi chủ thể, xác định trách nhiệm quản lý thuế để đảm bảo công khai, minh bạch, áp dụng nguyên tắc bản chất quyết định hình thức trong việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, áp dụng quản lý rủi ro trong quá trình quản lý thuế, áp dụng công nghệ khoa học đơn giản hóa thủ tục và bổ sung nguyên tắc mọi hành vi vi phạm quản lý thuế phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh.

Đại biểu Nguyễn Kim Tuyến – Đoàn ĐBQH tỉnh Tiền Giang, đề nghị dự thảo Luật cần quy định bảo đảm đủ quyền của người nộp thuế đồng thời thống nhất với nội dung tại một số điều khoản của luật về miễn, giảm, khoanh nợ, xóa nợ thuế. Do đó xem xét bổ sung vào Điều 16 về quyền của người nộp thuế một khoản về quyền được đề nghị xem xét gia hạn nộp thuế, miễn, giảm, khoanh nợ, xóa nợ thuế.

Đại biểu Đỗ Thị Lan – Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh, cho rằng quy định về quyền khiếu nại của người nộp thuế nên thể hiện trong Điều 16 thay vì quy định tại Điều 21 như dự thảo. Điều 21 cũng không có quy định về quyền, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế do vậy nên chuyển nội dung này sang điều khoản nào đó cho phù hợp với việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế, Điều 21 chỉ quy định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan kiểm toán. Đại biểu nhất trí với việc quy định rõ trách nhiệm quyền hạn của các cơ quan này trong việc phối hợp với cơ quan thuế trong việc quản lý thuế. Theo đại biểu quy định này rất cần thiết và càng quy định rõ bao nhiêu thì sẽ thực hiện tốt bấy nhiêu. Đối với nhiều luật do quy định chưa rõ, chưa có sự cam kết trong thực hiện nhiệm vụ phối hợp nên việc thực hiện nhiệm vụ phối hợp chưa hiệu quả.

Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Phương, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình đặt vấn đề, điều cần quan tâm trong sửa đổi luật lần này là chuyển giá, quản lý chặt chẽ để tránh được tình trạng doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài luôn mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng lại báo lỗ và không thu được thuế; làm sao đẩy mạnh sử dụng hóa đơn điện tử; khắc phục được tình trạng thất thu thuế giá trị gia tăng.

Do đó đại biểu đề nghị dự thảo Luật cần bổ sung khái niệm “chuyển giá” vào phần giải thích từ ngữ vì một số nội dung của luật có liên quan đến chuyển giá, ngăn chặn tình trạng chuyển giá. Bổ sung quy định về các hành vi bị nghiêm cấm gồm hành vi lợi dụng chuyển giá để trốn thuế; cấm xuất hóa đơn ảo làm hợp lý hóa chi phí nguồn ngân sách gây thất thoát nguồn thu chi ngân sách quốc gia và cấm cán bộ thuế thỏa hiệp tạo cơ hội cho doanh nghiệp trốn thuế và gian lận thương mại.

Sau khi thảo luận, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo báo cáo, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội quan tâm. Phát biểu kết luận phiên họp, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cho rằng, đa số ý kiến của đại biểu đã cơ bản tán thành với nhiều nội dung trong báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý dự thảo Luật; trong đó, có nhiều ý kiến đại biểu đã đóng góp rất sâu về một số nội dung của dự án Luật, như: nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý thuế; nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Kiểm toán nhà nước, Thanh tra nhà nước; quy định về các điều cấm; nội dung khai thuế, tính thuế, ấn định thuế, nộp thuế, xóa tiền thuế; vấn đề kiểm tra, thanh tra thuế và xử phạm vi phạm hành chính. Ngoài ra, tại phiên thảo luận còn có một số ý kiến góp ý về kỹ thuật văn bản, tính thống nhất của dự án Luật. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm tra phối hợp tiếp thu, hoàn thiện dự thảo Luật trước khi trình Quốc hội biểu quyết thông qua.

Lượt xem: 458

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.