Quốc hội thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

Đa số ĐBQH cho rằng việc sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là rất cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng… Thể chế hóa được các quy định của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu tài nguyên thiên nhiên, đường lối chủ trương của Đảng, Nghị quyết của QH liên quan bảo vệ và phát triển rừng.

Sáng 19/6/2017, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch QH Phùng Quốc Hiển, QH làm việc tại Hội trường, thảo luận về dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi).

Đa số ĐBQH cho rằng việc sửa đổi Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là rất cần thiết nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất các hoạt động quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng… Thể chế hóa được các quy định của Hiến pháp năm 2013 về sở hữu tài nguyên thiên nhiên, đường lối chủ trương của Đảng, Nghị quyết của QH liên quan bảo vệ và phát triển rừng.

Đại biểu Quốc hội Ksor Phước Hà – tỉnh Gia Lai phát biểu tại Hội trường

So với Luật năm 2004, dự thảo lần này đã có những tiếp cận toàn diện hơn. Tuy nhiên, nhiều đại biểu cũng cho rằng, một số nội dung trong dự thảo chưa thực sự thống nhất với quy định của pháp luật liên quan về Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, Luật Đầu tư. Vì thế, đề nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát, chỉnh sửa về phạm vi điều chỉnh, bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế liên quan đến bảo vệ và phát triển rừng mà Việt Nam là thành viên.

Về phân loại rừng tại Điều 5, một số ĐBQH đồng tình với quy định của dự thảo Luật, nhưng cũng có nhiều ý kiến đề nghị xem xét quy định phân loại rừng, bởi với cách phân loại thành 3 loại rừng chưa thực sự phù hợp cho quản lý và mang tính khoa học cao.

Đồng tình với quy định 3 loại rừng như dự thảo, đại biểu Võ Đình Tín (Đắk Nông) cho rằng, phân loại thành 3 loại rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất sẽ thuận tiện cho sắp xếp tổ chức trong ngành lâm nghiệp, thực hiện các chủ trương chính sách về đầu tư, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, sắp xếp, đổi mới và phát triển rừng quốc gia. ĐB Dương Đình Thông (Bắc Giang) cũng nhận định, phân thành 3 loại rừng là hợp lý. Tuy nhiên để nâng cao tính thuyết phục, đề nghị cơ quan soạn thảo cần phân tích, bổ sung làm rõ hơn cơ sở khoa học thực tiễn về tiêu chí phân thành 3 loại rừng.

Không đồng tình với những ý kiến trên, ĐB Nguyễn Văn Man (Quảng Bình) đề nghị, chỉ nên phân loại thành 2 loại rừng là rừng bảo vệ và rừng kinh tế. Trong đó, rừng bảo vệ gồm rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Còn rừng kinh tế là rừng trồng sản xuất. ĐB Nguyễn Văn Man cho rằng, việc phân loại như vậy phù hợp với phân loại của nhiều nước trên thế giới, giúp chúng ta thuận lợi hơn trong hợp tác quốc tế, thực hiện quản lý rừng bền vững. Điều này cũng giúp toàn bộ rừng tự nhiên hiện có của nước ta sẽ không được chuyển sang mục đích khác. Theo ĐB, việc phân loại thành 3 loại rừng như dự thảo buộc phải có các cơ chế, chính sách, mô hình phù hợp để quản lý, bảo vệ, sử dụng với từng loại rừng.

Nhất trí việc chỉ nên phân loại thành 2 loại rừng, ĐB Nguyễn Sơn (Hà Tĩnh) nhấn mạnh, chỉ nên quy định là rừng bảo vệ và rừng sản xuất. Trong rừng bảo vệ có rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, và một số rừng đặc chủng theo biên cương biên giới… Quy định này cần được quy định rõ các tiêu chí trong Luật để Chính phủ và Bộ NN-PTNT hướng dẫn và tổ chức thực hiện phân loại chính xác.

ĐB Lưu Văn Đức (Đắk Lắk) lại cho rằng, quy định phân loại rừng chưa đưa ra được hết nội hàm để bảo vệ và phát triển rừng. Phân loại rừng trong dự thảo Luật chỉ mới đề cập đến phân loại rừng theo mục đích sử dụng rừng thuần túy về kỹ thuật của ngành lâm nghiệp mà chưa rõ tính chất sử dụng đặc thù của rừng gắn với chủ thể, chủ rừng là cộng đồng dân cư các dân tộc như rừng tâm linh, tín ngưỡng, rừng bảo vệ nguồn nước, rừng biên giới… Tiêu chí phân loại rừng đặc dụng tại Điểm d Khoản 1 Điều 5 chỉ quy định chung là rừng văn hóa tín ngưỡng. Trong khi loại rừng này của cộng đồng chưa được pháp luật thừa nhận như các đình, chùa, miếu, mạo đã được Luật Đất đai quy định là đất tín ngưỡng.

* Cũng trong sáng nay, dưới sự điều khiển của Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu, QH đã biểu quyết thông qua Nghị quyết phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao về việc bổ nhiệm 2 Thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao với tỷ lệ 83,10% số ĐBQH có mặt tán thành.

Theo kết quả kiểm phiếu sau khi tiến hành bỏ phiếu kín, ông Lê Hồng Quang, sinh năm 1968, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy Tiền Giang đạt tỉ lệ 78,81% số ĐBQH có mặt tán thành việc bổ nhiệm. Ông Nguyễn Văn Tiến, sinh năm 1966, Thẩm phán cao cấp, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội có 85,74% số ĐBQH có mặt tán thành bổ nhiệm.

 NGỌC ÁNH

Lượt xem: 857

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.