Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ Bí mật Nhà nước

Thực hiện Chương trình kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 15/11, các đại biểu Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước.

Thực hiện Chương trình kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 15/11, các đại biểu Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật Bảo vệ bí mật nhà nước. Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ điều hành nội dung làm việc.

Trước khi biểu quyết, các đại biểu Quốc hội đã nghe Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Võ Trọng Việt báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước. Theo đó, trên cơ sở ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội thảo luận tại kỳ họp thứ 6 (ngày 25/10/2018) về dự án Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trình Quốc hội xem xét, thông qua. Cụ thể:

Về nội dung phạm vi bí mật nhà nước, UBTVQH nêu rõ, tại Báo cáo số 323/BC-UBTVQH ngày 10/10/2018 giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước báo cáo trước Quốc hội, UBTVQH đã giải trình cụ thể về quy định phạm vi bí mật nhà nước của dự thảo Luật, theo đó, phạm vi bí mật nhà nước là giới hạn thông tin quan trọng, chưa được công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Trên cơ sở phạm vi tại Điều này, Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành danh mục cụ thể về bí mật nhà nước theo trình tự, thủ tục chặt chẽ (như vậy không phải tất cả các thông tin trong các lĩnh vực này đều là mật). Nghiên cứu pháp luật về bảo vệ bí mật của một số nước cũng có quy định tương tự về phạm vi bí mật nhà nước. Vì vậy, UBTVQH cho rằng, quy định như dự thảo Luật là phù hợp.

Về ban hành danh mục bí mật nhà nước, UBTVQH đánh giá, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIV, nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị cân nhắc việc quy định danh mục bí mật nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật vì cho rằng không phù hợp, không thống nhất với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, UBTVQH đã tiếp thu và chỉ đạo rà soát, chỉnh lý lại nội dung của Điều này theo hướng không quy định danh mục bí mật nhà nước là văn bản quy phạm pháp luật; quy định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức trong việc lập và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý của mình. Do đó, UBTVQH đề nghị Quốc hội cho giữ như dự thảo Luật, đồng thời, bổ sung khoản 4 quy định về trách nhiệm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục bí mật nhà nước. Đồng thời UBTVQH nhận thấy, thông tin thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là thông tin có tính chuyên ngành, đặc thù, trong đó có những thông tin cần được bảo vệ kể từ khi bắt đầu xây dựng dự thảo danh mục bí mật nhà nước. Việc quy định thành lập Hội đồng thẩm định sẽ không bảo đảm yêu cầu bảo vệ thông tin. Mặt khác, thực tế hiện nay, danh mục bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh đang được xây dựng theo quy trình rất chặt chẽ, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đều lấy ý kiến tham gia, thẩm định của các đơn vị chuyên môn, rà soát kỹ nội dung trước khi ban hành hoặc trình Thủ tướng Chính phủ ban hành. Vì vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội không quy định nội dung này trong dự thảo Luật.

Về các hành vi bị nghiêm cấm, UBTVQH chỉ rõ, Bộ luật Hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để quy định về hành vi chiếm hữu trái pháp luật (như cướp, cướp giật, chiếm đoạt, công nhiên chiếm đoạt, cưỡng đoạt, trộm cắp…). Đối với hành vi chiếm hữu bí mật nhà nước trái phép, UBTVQH thấy rằng thuật ngữ “chiếm đoạt” đã cơ bản thể hiện được hành vi “trộm cắp” bí mật nhà nước như ý kiến ĐBQH, đồng thời cũng thống nhất với quy định tại Điều 337 của Bộ luật Hình sự.

Về các hành vi cấm trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước đối với địa điểm chứa bí mật nhà nước, UBTVQH đánh giá, các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước đối với địa điểm chứa bí mật nhà nước, khu vực cấm, địa điểm cấm đã được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Cảnh vệ, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia, Pháp lệnh Bảo vệ công trình quốc phòng, khu quân sự; trong các văn bản này đã quy định về các hành vi bị cấm trong hoạt động bảo vệ đối với các công trình, địa điểm này. Vì vậy, UBTVQH đề nghị Quốc hội không bổ sung các nội dung trên trong dự thảo Luật. Bên cạnh đó, UBTVQH nêu rõ, thuật ngữ “mạng máy tính” hiện được sử dụng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Tuy chưa có văn bản giải thích cụ thể thuật ngữ “mạng máy tính” nhưng về cơ bản đều được hiểu thống nhất là sự kết hợp các máy tính lại với nhau thông qua các thiết bị kết nối mạng bằng nhiều phương thức khác nhau (không dây, có dây) ở nhiều quy mô khác nhau (LAN, WAN, GAN…). Do đó, việc sử dụng máy tính hoặc thiết bị kết nối với mạng máy tính, mạng viễn thông để soạn thảo, lưu giữ bí mật nhà nước sẽ tiềm ẩn nguy cơ bị xâm nhập từ bên ngoài và thậm chí từ những cá nhân được phép sử dụng mạng nội bộ, gây mất an ninh, an toàn thông tin, lộ, mất bí mật nhà nước. Thực tế, qua kiểm tra công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng và bảo vệ bí mật nhà nước trên môi trường mạng máy tính đối với một số cơ quan, đơn vị, địa phương đã phát hiện nhiều máy tính nối mạng LAN, WAN, Internet bị lây nhiễm các biến thể mã độc thuộc nhiều dòng virus khác nhau. Vì vậy, UBTVQH đề nghị cho giữ như quy định tại khoản 5 Điều 5 dự thảo Luật. 

Sau khi nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua dự thảo Luật với 444 đại biểu tán thành, chiếm 91,55% tổng số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết.

Kết quả biểu quyết (Ảnh: Minh Tú)

Luật Bảo vệ bí mật nhà nước được thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV gồm 5 Chương, 28 Điều. Phạm vi điều chỉnh của Luật quy định về bí mật nhà nước, hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2020. Các quy định của Luật này liên quan đến lập, thẩm định, ban hành danh mục bí mật nhà nước, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này, gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2019. Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước số 30/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành

Lượt xem: 438

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.