Sự cần thiết hợp nhất, ban hành Luật Bầu cử ĐBQH và ĐB HĐND

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 tiếp tục ghi nhận và phát triển quyền bầu cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của công dân; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế để bảo đảm cho công dân thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của mình. Đặc biệt là Hiến pháp đã quy định Hội đồng bầu cử quốc gia - cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức việc bầu cử đại biểu Quốc hội và chỉ đạo, hướng dẫn việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các luật về bầu cử hiện hành để cụ thể hóa quy định mới này của Hiến pháp...

Luật bầu cử đại biểu Quốc hội được ban hành năm 1997, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được ban hành năm 2003, hai đạo luật này đã được sửa đổi, bổ sung một số lần. Sau hơn 17 năm thi hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và hơn 10 năm thi hành Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho quá trình tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội các khóa X, XI, XII và XIII; cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009 và nhiệm kỳ 2011-2016, góp phần kiện toàn tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu qua các nhiệm kỳ cơ bản đều bảo đảm tiêu chuẩn; chất lượng đại biểu ngày càng được nâng lên; số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách được tăng cường; cơ cấu, thành phần đại diện trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp được bảo đảm hợp lý...

Tuy nhiên, trước yêu cầu tiếp tục đổi mới công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong những nhiệm kỳ tới thì cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi các quy định về bầu cử để thống nhất, ban hành một Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2013 tiếp tục ghi nhận và phát triển quyền bầu cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của công dân; tiếp tục hoàn thiện các cơ chế để bảo đảm cho công dân thực hiện quyền bầu cử và ứng cử của mình. Đặc biệt là Hiến pháp đã quy định Hội đồng bầu cử quốc gia - cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm vụ tổ chức việc bầu cử đại biểu Quốc hội và chỉ đạo, hướng dẫn việc bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp. Do đó, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các luật về bầu cử hiện hành để cụ thể hóa quy định mới này của Hiến pháp, xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Hội đồng bầu cử quốc gia trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân; 

Một số vấn đề mới liên quan đến công tác bầu cử quy định trong các đạo luật sắp được Quốc hội xem xét, thông qua, như Luật tổ chức Quốc hội (sửa đổi), Luật tổ chức chính quyền địa phương; về các đơn vị hành chính, kinh tế đặc biệt… cũng đặt ra yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung các luật về bầu cử hiện hành để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.

Quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hiện hành trong quá trình thực hiện cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập, cần phải sửa đổi, bổ sung, như quy định về tiêu chuẩn, số lượng đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Hồ sơ của người ứng cử, quy trình hiệp thương, việc vận động bầu cử…;

Nhiều nội dung, trình tự, thủ tục quy định trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân tương tự hoặc tương đồng nhau. Chính vì vậy, cần thiết phải hợp nhất hai văn bản này để ban hành một văn bản Luật điều chỉnh chung, nhằm giúp cho công tác bầu cử được thuận tiện hơn.

Từ những lý do nêu trên cho thấy, việc xây dựng và ban hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân trên cơ sở sửa đổi, bổ sung và hợp nhất Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân hiện hành là cần thiết, nhằm nâng cao chất lượng đại biểu, góp phần tiếp tục đổi mới tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân các cấp trong thời gian tới.

Nghiên cứu, xây dựng dự thảo ban hành Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân là công việc quan trọng quy định về quyền chính trị cơ bản của công dân. Những quyền này cần phải được Nhà nước bảo đảm thực hiện một cách dân chủ, công bằng, thuận lợi và thực chất. Vì vậy, việc xây dựng dự án Luật này phải bảo đảm các yêu cầu và quan điểm chỉ đạo:

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân để lựa chọn và bầu ra những người ưu tú, đại diện cho các tầng lớp nhân dân tham gia trong cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương; nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

- Bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử của mình; phát huy dân chủ, hoàn thiện cơ chế bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; bảo đảm sự phù hợp của Luật với Hiến pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

- Trên cơ sở đánh giá, tổng kết thực tiễn qua các cuộc bầu cử và việc thi hành các văn bản pháp luật về bầu cử để sửa đổi, bổ sung, khắc phục những hạn chế, bất cập; chỉ sửa đổi, bổ sung những vấn đề đã rõ, có đủ cơ sở và có sự thống nhất cao.

- Bảo đảm tính kế thừa, trên cơ sở hợp nhất hai văn bản luật hiện hành về bầu cử, luật hoá một số quy định của các văn bản dưới luật liên quan đến hoạt động bầu cử đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn;  

- Bảo đảm phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn về kinh tế - xã hội của đất nước, có tham khảo chọn lọc kinh nghiệm về bầu cử của một số nước.

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 305

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.