Sự cần thiết và những điểm mới trong dự thảo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND

Để kịp thời thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hoá các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, đồng thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định, ban hành một đạo luật chung về hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND là thực sự cần thiết.

Trong thời gian qua, hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND được thực hiện trên cơ sở quy định của Luật tổ chức Quốc hội (năm 2001), Luật hoạt động giám sát của Quốc hội (năm 2003), Luật tổ chức HĐND và UBND (năm 2003), Nội quy kỳ họp Quốc hội, Quy chế hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Quy chế hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, Quy chế hoạt động của HĐND.

Qua quá trình thực hiện theo các quy định này, hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nội dung giám sát khá toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm trong từng thời gian, trong đó tập trung vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, việc thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnhnhững vấn đề thực tiễn cuộc sống đòi hỏi. Hình thức giám sát, phương thức tổ chức hoạt động giám sát được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, nâng cao tính công khai, minh bạch, có sự tham gia ý kiến của nhân dân, sự tham gia, phối hợp giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Hoạt động giám sát đã phát huy tính chủ động, tích cực của các cơ quan thực hiện giám sát, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng chịu sự giám sát. Qua giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và của địa phương, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách và quản lý điều hành kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, được dư luận và nhân dân đồng tình, ủng hộ, quan tâm, đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử.

Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND cũng bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập:

- Một số quy định về nội dung, đối tượng, hình thức giám sát của Quốc hội, HĐND còn trùng lặp, chưa rõ ràng, cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện; phạm vi giám sát quá rộng với nhiều chủ thể, nhiều hình thức giám sát, nhưng lại chưa phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi chủ thể với từng đối tượng chịu sự giám sát cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát dẫn tới sự chồng chéo trong thực hiện; các quy định về giám sát của Quốc hội, HĐND hiện đang nằm tản mạn trong nhiều văn bản khác nhau cho nên khó tiếp cận;

- Một số quy định về hình thức giám sát chưa được thực thi hoặc tính khả thi còn thấp, như quy định về việc Quốc hội, HĐND bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn; quy định Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định; quy định Quốc hội xem xét báo cáo của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; hoạt động giám sát văn bản pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên; chưa có biện pháp hữu hiệu để theo dõi, kiểm tra việc tiếp thu, giải quyết các kiến nghị sau giám sát. Quy định về các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát như cơ sở vật chất, trang thiết bị, bộ máy giúp việc… chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát.

- Một số hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND mới được thực hiện đã phát huy hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cuộc sống như giám sát theo chuyên đề, giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri, tổ chức phiên giải trình, tổ chức chất vấn giữa hai kỳ họp… nhưng lại chưa được ghi nhận trong các quy định của luật; một số thẩm quyền giám sát được quy định trong các đạo luật về tổ chức nhưng không có trình tự, thủ tục thực hiện trong luật hoạt động giám sát.

Những bất cập nêu trên dẫn đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND vẫn còn hạn chế.

Để kịp thời thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hoá các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội mới được Quốc hội thông qua, đồng thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành để ban hành một đạo luật chung về hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND là thực sự cần thiết

Dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND được xây dựng để quy định một cách thống nhất về hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử, trong đó, không chỉ xác định rõ thẩm quyền, phạm vi giám sát của từng chủ thể mà còn tăng cường sự phối hợp trong quá trình tiến hành hoạt động giám sát nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và tránh sự chồng chéo, trùng lặp. Do vậy, bên cạnh việc rà soát sửa đổi, bổ sung các quy định để thể chế hóa các văn kiện của Đảng, cụ thể hóa các quy định mới của Hiến pháp, dự thảo đã bổ sung những nội dung được đặt ra trong thực tiễn, sửa đổi các quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội hiện hành, Chương III của Luật tổ chức HĐND và UBND (năm 2003), đồng thời, pháp điển hóa các quy định về hoạt động giám sát trong các nội quy, quy chế hoạt động của Quốc hội, HĐND để khi Luật mới được ban hành sẽ sớm đi vào cuộc sống mà không phải chờ sửa đổi các văn bản khác có liên quan hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành.

Dự thảo Luật đã bổ sung một số quy định nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND, trong đó khẳng định rõ “giám sát của Quốc hội, HĐND là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước. Quy định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu giám sát; giải quyết kiến nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, HĐND.

Quy định nguyên tắc minh bạch, khách quan, bảo đảm công khai trong hoạt động giám sát; đồng thời, bổ sung các quy định cụ thể để tăng tính công khai, minh bạch trong hoạt động này, tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND, qua đó, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể giám sát cũng như các đối tượng chịu sự giám sát, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát.

Về hoạt động giám sát của HĐND, dự thảo Luật cơ bản giữ quy định về chủ thể giám sát, phạm vi giám sát của HĐND như quy định của Luật tổ chức HĐND và UBND (năm 2003); sửa đổi, bổ sung về hình thức giám sát, cụ thể hóa các trình tự, thủ tục tiến hành giám sát; đồng thời về mặt kỹ thuật, các điều luật đã được đặt tên và thể hiện lại cho thống nhất với các quy định trong dự thảo Luật. Bổ sung quy định về hoạt động lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu.

Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành không có mục riêng quy định về hoạt động giám sát của đại biểu HĐND mà lồng ghép nội dung này trong các quy định về quyền và trách nhiệm của đại biểu HĐND. Khắc phục hạn chế này, dự thảo Luật đã bổ sung một mục quy định các hoạt động giám sát của đại biểu HĐND, trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động giám sát cụ thể như chất vấn, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát việc thi hành pháp luật tại địa phương, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; đồng thời, quy định về việc Tổ đại biểu HĐND tổ chức để đại biểu HĐND giám sát việc thi hành pháp luật trên địa bàn đại biểu ứng cử.

Bên cạnh đó, để khắc phục sự chồng chéo, trùng lặp trong việc thực hiện các hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND, dự thảo Luật bổ sung, quy định về trách nhiệm chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, cụ thể như: Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội định kỳ báo cáo về dự kiến chương trình, nội dung, kế hoạch giám sát của Hội đồng, Uỷ ban và điều chỉnh chương trình, kế hoạch, thời gian, địa điểm thực hiện giám sát của mình khi có sự trùng lặp, chồng chéo; yêu cầu Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội phối hợp thực hiện một số hoạt động giám sát ở cùng một cơ quan, địa phương, đơn vị để bảo đảm chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát. Quy định Thường trực HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm điều hòa, phối hợp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian giám sát trên địa bàn.

Nhằm bảo đảm sự phối hợp trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử ở trung ương và địa phương, dự thảo Luật quy định cụ thể Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm xem xét, điều hòa để tránh chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian giám sát giữa hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với hoạt động giám sát của HĐND. Thường trực HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội trong trường hợp có sự chồng chéo về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian giám sát giữa hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội với hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh. 

 MINH ĐỨC

Lượt xem: 572

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.