Sửa đổi Luật Tổ chức Viện KSND và Luật Tổ chức TAND - Sự cần thiết cải cách tư pháp và cụ thể hóa Hiến pháp

Sự cần thiết phải sửa đổi Luật Tổ chức Viện KSND, Luật Tổ chức TAND là cần thiết, để theo kịp với sự phát triển của đời sống chính trị, kinh tế xã hội; đảm bảo việc cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị, các quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu trong cải cách tư pháp, giải quyết những vấn đề bất cập, tồn tại trong thực tiễn, giúp cơ quan chuyên môn thực thi hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng với tình hình phát triển chung của đất nước...

Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội vừa hoàn thành báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào 02 dự thảo Luật Tổ chức Viện KSND và Luật Tổ chức TAND (sửa đổi).

Các báo cáo đã tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi Luật Tổ chức Viện KSND, Luật Tổ chức TAND là cần thiết, để theo kịp với sự phát triển của đời sống chính trị, kinh tế xã hội; đảm bảo việc cụ thể hóa các quan điểm của Đảng, Nghị quyết của Bộ Chính trị, các quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu trong cải cách tư pháp, giải quyết những vấn đề bất cập, tồn tại trong thực tiễn, giúp cơ quan chuyên môn thực thi hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng với tình hình phát triển chung của đất nước.

Các dự thảo sửa đổi Luật đã có nhiều nội dung tiến bộ, làm rõ hơn vai trò, vị trí của các cơ quan tư pháp trong hoạt động kiểm sát, xét xử. Trong đó, nhiều nội dung được các vị đại biểu Quốc hội trong Đoàn, cử tri và nhân dân có ý kiến được tổng hợp như:

* Về thẩm quyền và việc tổ chức Ủy ban kiểm sát trong Luật Tổ chức Viện KSND.

Đa số ý kiến cho rằng việc quy định Ủy ban kiểm sát là rất cần thiết, đảm bảo sự kết hợp hài hòa, có hiệu quả giữa nguyên tắc tập trung thống nhất và nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp giữa trách nhiệm của tập thể với trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan Viện kiểm sát.

Có ý kiến cho rằng quy định tại khoản 3 Điều 43, Điều 45 “Nghị quyết của Ủy ban kiểm sát phải được quá nửa thành viên biểu quyết tán thành… nếu Viện trưởng không nhất trí với ý kiến của đa số thành viên Ủy ban kiểm sát thì thực hiện theo quyết định của đa số… là chưa đề cao trách nhiệm của Viện trưởng Viện kiểm sát cũng như trách nhiệm của thành viên Ủy ban kiểm sát vì Viện trưởng Viện kiểm sát là người phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của Viện kiểm sát.

Có ý kiến cho rằng nguyên tắc tổ chức của Viện kiểm sát là tập trung thống nhất trong ngành,Viện trưởng Viện kiểm sát là người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với mọi hoạt động trong cơ quan Viện kiểm sát. Hiện nay, Viện kiểm sát đang phải thực hiện hai chức năng rất quan trọng là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp. Cả hai chức năng này đều liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Vì thế, không thể tổ chức Ủy ban kiểm sát như một cơ quan tư vấn cho Viện trưởng Viện kiểm sát mà cần kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc tập trung dân chủ với nguyên tắc thống nhất lãnh đạo trong tổ chức, hoạt động của ngành Kiểm sát. Đề nghị quy định cụ thể Ủy ban kiểm sát có quyền thẩm tra những nội dung quan trọng trước khi Viện trưởng Viện kiểm sát quyết định.

Khoản 3 (Điều 41), Khoản 4 (Điều 44), Khoản 4 (Điều 45) qui định chức năng của Ủy ban kiểm sát các cấp “có trách nhiệm thảo luận và cho ý kiến về các vụ hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phức tạp”. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể ngay trong dự thảo Luật thế nào là vụ việc phức tạp để tránh tình trạng Ủy ban kiểm sát phải cho ý kiến vào quá nhiều vụ việc làm hạn chế tính độc lập, chủ động của Kiểm sát viên.

* Về Hội thẩm nhân dân quy định trong Luật Tổ chức TAND.

Tại các điều 77, 78, 79, 80, 81, 82, 83, 84 dự thảo luật chưa có một cơ chế hữu hiệu để “Hội thẩm nhân dân hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” như nguyên tắc đặt ra. Hội thẩm nhân dân vẫn chiụ sự phân công tham gia xét xử vụ án của Chánh án Tòa án nhân dân các cấp (qui định tại khoản 2 điều 84). Đề nghị Ban soạn thảo qui định theo hướng không giao cho Tòa án quản lý Hội thẩm nhân dân, mà giao cho Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố  trực thuộc Trung ương quản lý đội ngũ này mới đảm bảo nguyên tắc Hội thẩm là người đại diện của nhân dân, độc lập, không phụ thuộc vào Tòa án các cấp.

* Về chức năng thực hành quyền công tố của Viện KSND

Đa số ý kiến cho rằng phạm vi “thực hành quyền công tố” trong dự thảo quy định từ khi khởi tố vụ án là chưa đầy đủ, trong thực tế hiện nay, công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra bắt đầu từ khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm. Trước khi khởi tố, Viện kiểm sát cũng đã tham gia vào các hoạt động tố tụng như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; phê chuẩn, không phê chuẩn việc áp dụng các biện pháp bắt, tạm giữ… Đây là hoạt động của Viện Kiểm sát để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự, nghĩa là thực hiện nội dung của quyền công tố. Đề nghị viết lại như sau: Thực hành quyền công tố là các hoạt động của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự để thực hiện chức năng buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi có hành vi tội phạm xảy ra và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

Có ý kiến cho rằng quy định như Dự thảo Luật không phải chức năng công tố, vì mục đích để bảo đảm việc xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật là chức năng kiểm sát, còn chức năng công tố là phát hiện và buộc tội đúng quy định của pháp luật.

* Về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện KSND. Khoản 1, Điều 4 có ý kiến đề nghị viết lại như sau: “ Kiểm sát hoạt động tư pháp là các hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các việc khác theo quy định của pháp luật; trong việc thi hành án…”.

* Hệ thống tổ chức của Viện KSND và TAND cũng là nội dung có nhiều ý kiến khác nhau.

Một số ý kiến đề nghị lựa chọn mô hình Viện KSND khu vực để bảo đảm đồng bộ với việc tổ chức TAND sơ thẩm khu vực, tăng cường tính độc lập của Viện KSND trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ.

Nhiều ý kiến đề nghị vẫn giữ nguyên mô hình Viện KSND cấp huyện gắn với đơn vị quản lý hành chính như hiện nay, vì cho rằng, nếu thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực dẫn đến có sự cách trở về địa lý, việc đi lại của người dân khó khăn, tốn kém thời gian và tiền bạc của nhân dân đồng thời làm mất đi sự giám sát của các cơ quan dân cử và nhân dân. Ngoài ra, nếu thành lập Viện kiểm sát sơ thẩm khu vực, mối quan hệ với Cơ quan điều tra các huyện thuộc khu vực sẽ không chặt chẽ như trước.

Về tổ chức TAND đa số ý kiến tán thành với dự thảo luật là thành lập Tòa án nhân dân ở 4 cấp theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính và không thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực.

Trường hợp Thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực, một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu:

+ Thành lập các Tòa án chi nhánh hoặc Văn phòng tiếp nhận hồ sơ, đơn đối với những Tòa án sơ thẩm khu vực, Tòa án cấp cao căn cứ phạm vi hành chính, mật độ dân cư để cân bằng khối lượng công việc của Tòa án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình nhất là ở nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa.

+ Để không gây khó khăn cho người dân trong việc đi lại đối với những nơi có địa bàn rộng, hệ thống giao thông không thuận lợi thì đề nghị trụ sở của Tòa án cấp huyện cần được giữ lại làm trụ sở chi nhánh của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực tạo thuận lợi cho nhân dân khi có công việc liên quan đến Tòa. Trong trường hợp này, chi nhánh của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực sẽ là nơi chủ yếu thụ lý, giải quyết, xét xử các vụ việc dân sự trên địa bàn và xét xử lưu động một số vụ án hình sự theo yêu cầu phụ vụ nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục pháp luật hoặc nhiệm vụ chính trị khác của địa phương.

+ Việc thành lập Tòa án sơ thẩm khu vực đưa ra các quy định cụ thể như: về cơ chế lãnh đạo và chịu sự lãnh đạo, vị trí địa lý, kinh tế, mật độ dân cư, dân tộc, phong tục tập quán, khối lượng công việc phát sinh…

- Để Tòa án sơ thẩm khu vực thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình đề nghị quy định tổ chức, đoàn thể chính trị riêng không phụ thuộc vào địa bàn hành chính. Như vậy khi giải quyết công việc mới khách quan, công bằng, khách quan...

Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Tổ chức Viện KSND (sửa đổi)

Báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Tổ chức TAND (sửa đổi)

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 406

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.