Tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ góp phần khắc phục oan, sai

Ngày 5/6, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 5/6, Quốc hội thảo luận tại hội trường về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.

Trình bày Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Nguyễn Văn Hiện cho biết, trong những năm gần đây, tình hình tội phạm tiếp tục diễn biến phức tạp, gia tăng số vụ, số người phạm tội, phương thức, thủ đoạn phạm tội tinh vi, xảo quyệt, nhưng Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp đã có nhiều nỗ lực, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Về cơ bản hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự đã bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Cơ quan điều tra đã khắc phục được những tồn tại, thiếu sót trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử; nhờ đó tình hình oan, sai đã được hạn chế đáng kể so với trước đây.

Đại biểu Chu Sơn Hà phát biểu tại Hội trường

Tuy nhiên, so với yêu cầu cải cách tư pháp, yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 thì việc phòng chống oan, sai, bỏ lọt tội phạm còn hạn chế, bất cập.

Trong kỳ giám sát (1/10/2011-30/9/2014), các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra 219.506 vụ với 338.379 bị can nhưng số vụ làm oan người vô tội có 71 trường hợp, chiếm 0,02%.

Các trường hợp làm oan đều là nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tài sản của người dân bị oan; có một số vụ đặc biệt nghiêm trọng gây bức xúc trong dư luận, gây mất lòng tin của nhân dân đối với công lý, giảm sút uy tín của cơ quan bảo vệ pháp luật.

Bên cạnh việc để xảy ra các trường hợp làm oan người vô tội; trong kỳ giám sát cho thấy, quá trình điều tra, truy tố, xét xử còn có những thiếu sót, sai phạm trong việc áp dụng pháp luật chủ yếu trong giải quyết tin báo, tố giác tội phạm còn bất cập, nhiều trường hợp chưa được giải quyết và số vụ tạm đình chỉ điều tra còn cao, tiềm ẩn việc bỏ lọt tội phạm…

Báo cáo cũng chỉ ra loại án thường dẫn đến oan sai chủ yếu thuộc loại án giết người, cướp tài sản, hiếp dâm trẻ em không quả tang mà quá trình điều tra gặp nhiều khó khăn và loại án về kinh tế do chủ quan của người tiến hành tố tụng nhận thức không đúng, chưa phân biệt được vi phạm pháp luật và hành vi phạm tội đã hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế thành các tội lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản…

Qua giám sát cho thấy, quá trình điều tra, truy tố, xét xử còn có những sai phạm chủ yếu dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm, đó là do việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm còn bất cập, nhiều trường hợp chưa được giải quyết và số vụ tạm đình chỉ điều tra còn cao, tiềm ẩn việc bỏ lọt tội phạm. Nhiều trường hợp bắt, tạm giữ, tạm giam còn chưa chính xác, sau đó phải chuyển xử lý hành chính…

Ủy ban Thường vụ Quốc hội kiến nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan của Bộ Luật hình sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, Luật tạm giữ, tạm giam và Luật trách nhiệm bồi thường Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ để góp phần khắc phục oan, sai và bảo đảm việc bồi thường thiệt hại thỏa đáng, kịp thời cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự...

Qua 25 ý kiến phát biểu trực tiếp tại hội trường, các đại biểu đánh giá cao việc Quốc hội đã chọn một chuyên đề giám sát đúng, trúng. Tình hình án oai sai là một thực tế, gây bức xúc cho xã hội.

Đại biểu Đỗ Kim Tuyến đề nghị làm rõ trách nhiệm dẫn đến oan sai

Các đại biểu đánh giá cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của các Đoàn giám sát ở địa phương. Chỉ trong thời gian ngắn, các đoàn đã hết sức nghiêm túc, cẩn trọng, tìm hiểu, nghiên cứu tình hình ở các địa phương để đánh giá, phân tích, đưa ra những ý kiến, góp ý chính xác, thiết thực giúp cơ quan điều tra, truy tố, xét xử ở địa phương nhìn nhận một cách đầy đủ, đúng đắn về kết quả cũng như những hạn chế, thiếu sót của mình trong quá trình áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, bồi thường thiệt hại cho người bị oan.

Trung tướng Đỗ Kim Tuyến - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an, đại biểu Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đề nghị cần phân tích kỹ hơn các số liệu để làm rõ việc dẫn đến oan, sai ngoài trách nhiệm của cơ quan tố tụng còn có trách nhiệm các cơ quan khác.

Từ đó, đề ra biện pháp cụ thể khắc phục, đảm bảo hạn chế mức thấp nhất những việc làm không đúng pháp luật, những vi phạm dù là nhỏ nhất để dẫn đến làm oan người dân vô tội, bỏ sót, bỏ lọt tội phạm; góp phần quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thực hiện nhất quán phương châm không bỏ lọt tội phạm, không để oan sai.

Nhấn mạnh rằng yêu cầu không bỏ lọt tội phạm cũng quan trọng không kém việc ngăn chặn oan, sai, Đại biểu Nguyễn Đức Chung, Giám đốc Công an thành phố Hà Nội nhận định, tình hình tội phạm ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi; việc tạm giữ hình sự mà sau đó chuyển sang hành chính đã được thực hiện đúng quy định pháp luật, phù hợp với tình hình thực tế địa phương.

“Điều này cần được nói rõ để có cách hiểu đúng. Tương tự, những thống kê về trường hợp đình chỉ điều tra, được miễn trách nhiệm hình sự cần được phân tích trường hợp nào do khách quan, trường hợp nào do công tác điều tra truy tố kém… Báo cáo giám sát cần làm rõ hơn về việc bắt tạm giữ hình sự rồi chuyển sang xử lý hành chính (2,3% người bị tạm giữ). Bởi bắt giữ hình sự rồi chuyển sang hành chính là cần thiết, việc tiến hành tạm giữ để xác minh là đúng quy định. Bởi rất nhiều vụ việc từng xảy ra trong thực tế cần phải sử dụng đến hình thức tạm giữ này”, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung đóng góp ý kiến.

Đại biểu Chu Sơn Hà, Phó trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội cho rằng, Chính phủ cần nghiên cứu, sớm ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm điều kiện cho công tác này được thuận lợi và nhanh chóng.

Tại buổi thảo luận, nhiều ý kiến đại biểu đồng tình với một số kiến nghị của Đoàn giám sát, theo đó: Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân các cấp tiếp tục quán triệt sâu sắc Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về công tác tư pháp; nghiêm túc chấp hành pháp luật trong việc bắt, giam giữ, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự.

Bộ Công an tiếp tục nghiên cứu, triển khai các biện pháp điều tra, thu thập chứng cứ, chống bức cung, nhục hình; nâng cao chất lượng điều tra, kỹ thuật khám nghiệm hiện trường; Viện Kiểm sát các cấp phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền điều tra trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật, tránh nể nang, phối hợp nhất trí một chiều trong việc phân loại, xử lý tội phạm ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

DUY LINH

Lượt xem: 463

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.