Thảo luận Tổ về dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Chiều ngày 24/5, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Chiều ngày 24/5, Quốc hội  thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức

Trình bày Báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định cho biết, thời gian qua, cơ quan soạn thảo dự án Luật đã chủ động phối hợp với các cơ quan có liên quan nghiên cứu các chủ trương, định hướng, yêu cầu của Đảng trong các nghị quyết Trung ương 4, 5, 6, 7, 8; khẩn trương tổng kết thực tiễn thi hành các quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; tổ chức nhiều hội nghị, hội thảo, tọa đàm, lấy ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, chuyên gia, nhà khoa học, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và đã nghiêm túc nghiên cứu, tiếp thu nhiều ý kiến góp ý để xây dựng dự án Luật. Ủy ban Pháp luật thống nhất với việc trình Quốc hội dùng một luật sửa hai luật với các lý do như phương án Chính phủ trình. Hồ sơ, tài liệu về dự án Luật đã được chuẩn bị đầy đủ, đáp ứng yêu cầu của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung dự án Luật cơ bản đã bám sát, thể chế hóa được yêu cầu trong các nghị quyết Trung ương về tiếp tục đổi mới công tác xây dựng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của dự thảo Luật với hệ thống pháp luật và tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Nhiều ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ý kiến của Ủy ban Pháp luật đã được tiếp thu, chỉnh lý trong dự thảo Luật

Toàn cảnh phiên thảo luận Tổ (Ảnh: Minh Tú)

Phát biểu tại phiên thảo luận tổ, đại biểu Quốc hội Ngọ Duy Hiểu dẫn khoản 3, Điều 79 Dự thảo Luật cán bộ, công chức quy định công chức bị Tòa án kết án phạt tù mà không được hưởng án treo thì đương nhiên bị buộc thôi việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Đại biểu cho rằng, xử lý vi phạm hành chính là hình thức nhẹ hơn xử lý hình sự, trong khi công chức bị xử lý hành chính đã có mức kỷ luật cao nhất là buộc thôi việc, mà xử lý hình sự lại không quy định đương nhiên bị thôi việc là không hợp lý.

Trong khi đó, trước phạt tù giam còn có phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, mà lại cho người được hưởng án treo vẫn không bị buộc đương nhiên thôi việc. “Về nguyên tắc, cứ có bản án có hiệu lực của Tòa án là vi phạm hình sự, thì phải đương nhiên bị thôi việc, vì trách nhiệm hình sự phải nghiêm trọng hơn hành chính. Nếu không, rất vô lý, và thực tế đã từng có chuyện như thế này”.

Đại biểu Ngọ Duy Hiểu cũng cho hay, hiện nay đang có sự phân biệt công chức xã với công chức của 3 cấp còn lại. Công chức xã vẫn được gọi là công chức, nhưng lại thêm cái đuôi “xã” để chỉ cấp hành chính, khiến nhiều công chức xã rất tâm tư.

“Nếu yêu cầu nhiệm vụ trình độ, đóng góp thì thể hiện bằng phụ cấp chứ không nên phân biệt. Khái niệm công chức nên liên thông 4 cấp”, đại biểu nói.

Về đánh giá công chức, yêu cầu đánh giá thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp chỉ thực hiện với người trực tiếp tiếp xúc với người dân, doanh nghiệp là chưa thỏa đáng, vì thái độ phục vụ nhân dân không phải chỉ với người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, mà người ngồi hoạch định chính sách, dù cả đời không tiếp xúc với dân nhưng cần hình thành những chính sách thật sự phục vụ nhân dân.

Vì vậy, theo đại biểu, tất cả cán bộ, công chức đều phải đánh giá thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp, đây là tiêu chuẩn chung.

Chánh án Tòa án nhân dân TP Hà Nội, đại biểu Nguyễn Hữu Chính đồng tình với quan điểm của đại biểu Ngọ Duy Hiểu. Theo ông Chính, cho biết trong thực tế đã trường hợp người bị kết án phạt tù được Tòa án cho hưởng án treo, và người này vẫn được ở lại cơ quan tiếp tục công tác. “Điều này là mâu thuẫn. Phải rạch ròi, đã bị xử lý hình sự thì đương nhiên phải buộc thôi việc”, ông Chính đề nghị.

ĐBQH Nguyễn Hữu Chính phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Bên cạnh đó, ông Chính cũng góp ý vào quy định với hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng thì không áp dụng thời hiệu xử lý kỷ luật cán bộ, công chức.

Các hành vi được xem là đặc biệt nghiêm trọng là: Cán bộ, công chức là đảng viên có hành vi vi phạm đến mức phải kỷ luật bằng hình thức khai trừ; Có hành vi vi phạm về công tác bảo vệ chính trị nội bộ; Có hành vi xâm hại đến lợi ích quốc gia trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại; Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, giấy chứng nhận, xác nhận giả, không hợp pháp.

Theo ông Chính, việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ giả, không hợp pháp sẽ có 2 trường hợp là sử dụng cho mình và sử dụng cho người khác. Và văn bằng, chứng chỉ giả cũng nhiều loại, có tính nghiêm trọng khác nhau, ví dụ một người sử dụng giấy khám sức khỏe giả sẽ khác hành vi sử dụng bằng giả. “Cần quy định rõ mức độ cụ thể, tránh trường hợp đổ đồng như nhau”, đại biểu nói.

Về phương án kỷ luật cán bộ công chức, đa số các đại biểu đa số đồng tình với phương án 2, giữ hình thức kỷ luật giáng chức như Luật Cán bộ, công chức hiện hành, vì quy định này là cần thiết, mang tính răn đe cao. Việc bỏ đi một hình thức kỷ luật sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng hình thức kỷ luật tương ứng với hành vi vi phạm của đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý.

                                                                                                                         LÊ MINH TÚ - VĂN PHÒNG ĐOÀN ĐBQH HÀ NỘI

Lượt xem: 563

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.