Thảo luận ở Tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công

Sáng 12/11, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội thảo luận tại Tổ về dự án Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đầu tư công. Phó Trưởng đoàn ĐB Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc điều hành phiên thảo luận.

Tại phiên thảo luận có 7 đại biểu Quốc hội đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật. ĐB Hoàng Văn Cường nhận định: Luật Đầu tư công có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 đến nay có hiệu quả rất tốt. Nguyên tắc phải có vốn mới được phê duyệt dự án đầu tư và phải trả nợ trước rồi mới được phê duyệt đầu tư giúp chúng ta thực hiện đầu tư tập trung hơn, khắc phục được tình trạng đầu tư dàn trải trước đây. Bởi, nguyên tắc này giúp hạn chế tối đa những dự án đã được phê duyệt nhưng không có vốn, dự án treo. Cũng vì thế, số lượng các dự án triển khai trong giai đoạn này chỉ bằng 50% so với trước đây và nợ đọng xây dựng cơ bản được ưu tiên giải quyết.

Toàn cảnh phiên thảo luận Tổ (Ảnh: Minh Tú)

Mặt khác, được Đại biểu Hoàng Văn Cường nhấn mạnh là Luật đã tăng cường vai trò tự chủ của các địa phương. “Trước đây, các địa phương trông chờ vào các nguồn vốn đi xin của T.Ư, nếu không nằm trong kế hoạch đầu tư công trung hạn, không thể xin được vốn, địa phương phải tự đi tìm ngồn vốn đầu tư cho mình. Vừa qua, một số dự án của các địa phương không dùng ngân sách T.Ư đã có phần tăng hơn so với trước”, Đại biểu Cường nêu ý kiến.

Đại biểu Hoàng Văn Cường phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Tuy nhiên, ĐB Hoàng Văn Cường cho rằng, Luật Đầu tư công còn nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện mà một trong những hậu quả nghiêm trọng nhất là tiến độ giải ngân vốn đầu tư công rất chậm. ĐB đoàn Hà Nội nhấn mạnh: “Chậm ngay từ khâu ban đầu là xác định các dự án phân bổ đầu tư đến quá trình triển khai. Đây cũng chính là tác động đặt ra yêu cầu phải thay đổi Luật Đầu tư công”.

Trong khi đó, ĐB Vũ Thị Lưu Mai cho rằng dự án Luật chưa thực sự phù hợp với thông lệ quốc tế. Nội dung dự thảo dường như tập trung về phần phân bổ nguồn lực, trong khi đánh giá kết quả đầu ra chưa thực sự rõ ràng. Dự thảo Luật thiếu vắng quy định đánh giá hiệu quả nguồn lực sau đầu tư. Trong bối cảnh hội nhập, Việt Nam không thể một mình một sân. Trong khi các nước, quy định pháp luật đều rất quan tâm đến hiệu quả sau đầu tư như thế nào. Do đó, cần nghiên cứu, bổ sung thêm.

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Về báo cáo đánh giá tác động môi trường, nữ ĐB cho biết, các địa phương phản ánh, ngay từ khâu tiền khả thi mà chúng ta quy định về đánh giá tác động môi trường là chưa hợp lý. Lần sửa đổi này nên khắc phục tình trạng này.

Về thẩm quyền của HĐND và Thường trực HĐND, đó là giao thẩm quyền quyết định đối với một số vấn đề đầu tư công cho Thường trực HĐND giữa 2 kỳ họp, ĐB Vũ Thị Lưu Mai cho rằng: “Việc áp dụng quy định này sẽ tạo nên sự linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ. Chúng ta không nên máy móc là Luật Chính quyền địa phương không quy định thì luật này không quy định”.

Liên quan đến nội dung này, Phó Trưởng đoàn ĐB Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc cho rằng, mặc dù Luật Đầu tư công chưa quy định thẩm quyền của Thường trực HĐND, nhưng qua quá trình thực hiện, đã có Nghị định hướng dẫn giao cho Thường trực HĐND quyết định chủ trương đầu tư giữa hai kỳ họp và báo cáo.

“Hiện, Hà Nội giao Thường trực HĐND, Thường trực HĐND báo cáo HĐND trong phiên họp gần nhất. Thực tiễn, Hà Nội và 63 tỉnh, TP làm rất tốt nội dung này. Một năm, Hà Nội xây dựng chủ trương đầu tư khoảng hơn 200 dự án, vậy mà cứ chờ đến 2 kỳ họp HĐND thì rất chậm. Thực tế đó cho thấy nội dung này cần được thể chế hóa vào Luật là hoàn toàn hợp lý”, ĐB Quốc hội Nguyễn Thị Bích Ngọc phát biểu.

Phó trưởng Đoàn ĐBQH TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Phó Trưởng đoàn ĐB Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc cho rằng, chúng ta nên đánh giá lại quá trình thực hiện vừa qua, đối với thẩm quyền của HĐND và Thường trực HĐND, cái được nhiều hay ít hơn cái chưa làm được. Chúng ta cần làm rõ nguyên nhân tại sao tỷ lệ giải ngân vẫn rất chậm, để điều chỉnh cho phù hợp. Nếu chỉ vì một vài tỉnh lợi dụng chủ trương này để bộ phận thường trực làm chưa đúng thì phải rút kinh nghiệm. Không thể vì một vài đơn vị mà đưa lên thành hiện tượng chung.

Chủ tịch HĐND TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc khẳng định: “Tôi thấy đề xuất của Chính phủ rất hợp lý. Tức là, giữa hai kỳ họp, Thường trực HĐND có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư một số dự án liên quan đến toàn bộ nguồn vốn của TP. Ngay cả dự án nhóm A, nguồn vốn của Thành phố thì bây giờ cũng phân cấp. Trước đây, chúng ta vẫn phải xin. Điều này giúp tháo gỡ rất lớn vướng mắc về mặt chính sách”.

Một nội dung nữa được ĐB Nguyễn Thị Bích Ngọc đề cập liên quan đến quy định có tác động môi trường thì mới phê duyệt chủ trương đầu tư. Hiện Uỷ ban Tài chính Ngân sách giao cho Chính phủ đánh giá sơ bộ lại, hướng dẫn thế nào là sơ bộ. Trong khi, Luật Môi trường đã nói rõ những dự án nào phải đánh giá đến tác động môi trường và đánh giá đến mức độ nào. Do đó, Phó Trưởng đoàn ĐB Quốc hội TP Hà Nội Nguyễn Thị Bích Ngọc đề nghị điều chỉnh ngay nội dung này trong Luật Đầu tư công mới do có sự xung đột về Luật.                

Về thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư quy định tại Điều 17 dự thảo Luật, Đại biểu Nguyễn Thị Lan và Đại biểu Lê Quân đề nghị phân cấp mạnh hơn cho các đơn vị sự nghiệp, giao cho các trường Đại học có thể đầu tư, việc báo cáo và trình đơn vị chủ quản sẽ làm tăng thủ tục hành chính phiền hà cho các đơn vị.

Lượt xem: 667

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.