Thảo luận tại Tổ về Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và dự án Luật Thủy sản (sửa đổi)

Việc sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là rất cần thiết nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lâm nghiệp: quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương xã hội hóa nghề rừng.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV, chiều 7/6, các đại biểu Quốc hội Hà Nội đã thảo luận ở tổ về Dự án Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) và dự án Luật Thủy sản (sửa đổi).

Các đại biểu thảo luận tổ tại Đoàn ĐBQH TP Hà Nội

* Đối với Luật Bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi)

Việc sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 là rất cần thiết nhằm tiếp tục thể chế hóa đầy đủ, kịp thời chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về lâm nghiệp: quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững là nền tảng cho phát triển lâm nghiệp trên cơ sở đẩy nhanh và làm sâu sắc hơn chủ trương xã hội hóa nghề rừng. Kế thừa những quy định còn phù hợp của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn; bảo đảm tính liên tục, tính thống nhất và đồng bộ giữa quy định của Luật này với các luật khác có liên quan, hài hòa hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

Có chính sách tạo nguồn và thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển bền vững rừng, đa dạng sinh học rừng; phát triển lâm nghiệp phải bảo đảm hài hòa các lợi ích của Nhà nước, chủ rừng và người làm nghề rừng, đóng góp ngày càng tăng vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; phát triển lâm nghiệp đồng bộ từ quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, từ trồng rừng, cải tạo rừng đến khai thác chế biến lâm sản, dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái.

Dự thảo Luật gồm 12 Chương, 97 điều đã quy định về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, kinh doanh, chế biến và thương mại lâm sản cơ bản là hợp lý. Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị bố cục cần phải bảo đảm cân đối hơn giữa các quy định về bảo vệ với phát triển rừng; sắp xếp các chương, mục, điều, khoản bảo đảm tính logic và khoa học hơn.

Thảo luận tại tổ, Đa số các đại biểu tán thành với tên gọi của dự thảo (ĐB Nguyễn Thị Lan, Trần Thị Phương Hoa, Nguyễn Anh Trí…), bên cạnh đó có đại biểu cho rằng  tên gọi là Luật Bảo vệ và phát triển rừng chưa bao quát được nội dung của Luật đề nghị đổi tên gọi thành Luật Lâm nghiệp vì lâm nghiệp vốn đã quen thuộc với người dân cũng như bao hàm hết nội dung của Luật (Nguyễn Chiến, Hòa Thượng Thích Bảo Nghiêm).

Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai cho rằng: việc cấm khai thác tài nguyên khoáng sản cần thêm nội dung cấm những hình thức kinh doanh khác làm thay đổi cảnh quan tự nhiên của hệ sinh thái rừng hoặc những hoạt động tương tự. Về vấn đề chủ rừng cũng phải phân tích rõ. Có những chủ rừng là ban quản lý do Nhà nước thành lập thì phải chịu trách nhiệm bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Như vậy, ban quản lý này sẽ chịu trách nhiệm cả đất, cây, sinh cảnh...

 Đại biểu Nguyễn Quang Tuấn còn băn khoăn nhất là vấn đề kinh doanh rừng. Theo đại biểu Tuấn, cần quản lý chặt chẽ vấn đề này tránh ảnh hưởng đến an ninh quốc gia.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí đề nghị bố sung vào dự thảo Luật trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc gây ô nhiễm các dòng suối. Nhà nước cần ban hành chính sách bảo vệ các dòng suối, hang động… tránh việc ngăn chặn dòng chảy của các con suối.

* Đối với dự án Luật Thủy sản (sửa đổi):

Các đại biểu tham gia góp ý vào một số vấn đề như về sự cần thiết và phạm vi sửa đổi của luật; về chính sách của Nhà nước trong hoạt động thủy sản, về hỗ trợ kinh phí mua bảo hiểm trong nuôi trồng thủy sản, tàu khai thác thủy sản, tàu dịch vụ hậu cần thủy sản xa bờ; về thực hiện đồng quản lý trong hoạt động thủy sản; về khu bảo tồn biển, khu bảo tồn thủy sản nội địa; về quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; về quy định đối với lực lượng Kiểm ngư;…

Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Lan nhất trí với sự cần thiết phải sửa đổi Luật Thủy sản. Theo đại biểu Nguyễn Thị Lan, mặc dù trong 13 năm qua Luật Thủy sản đã góp phần tạo nên hành lang pháp lý để các hoạt động trong lĩnh vực thủy sản được thuận lợi và phát triển, tuy nhiên theo yêu cầu thực tiễn, xu thế hội nhập và chủ trương chiến lược của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với ngành thủy sản, do đó, việc sửa đổi Luật Thủy sản là cần thiết để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay và để Luật có tính khả thi cao. Về lực lượng kiểm ngư, đại biểu nhất trí với quy định kiểm ngư trung ương và thành lập thêm hệ thống kiểm ngư địa phương tại 28 tỉnh ven biển.

Về chính sách của Nhà nước trong hoạt động thủy sản, mặc dù trong dự thảo đã đề cập đến các chính sách về đầu tư, hỗ trợ kinh phí, chính sách khuyến khích cho hoạt động thủy sản nhưng vẫn còn chung chung. Đại biểu Nguyễn Thị Lan đề nghị cần có chính sách cụ thể, rõ ràng hơn để đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng phát triển khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu của xã hội và nhà nước trong chuỗi các hoạt động thủy sản. Bên cạnh đó, đại biểu đề nghị luật cần quy định rõ, cụ thể để sớm đi vào cuộc sống, thực tiễn hoạt động của ngành thủy sản, hạn chế tối đa việc giao Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định chi tiết bằng việc ban hành các thông tư hướng dẫn dưới luật. Việc này sẽ dẫn đến các khó khăn, vướng mắc chồng chéo khi triển khai luật trong thực tế.

Đồng tình với ý kiến thành lập đội kiểm ngư trung ương và phát triển, chuyển đổi đơn vị thanh tra chuyên ngành thủy sản ở các tỉnh thành kiểm ngư địa phương, đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Tuấn  cho rằng, khi chuyển từ thanh tra sang kiểm ngư thì cần phải đào tạo, trang bị và cần được đầu tư tích cực để bảo đảm vấn đề kiểm ngư ở trong vùng gần bờ và cả xa bờ.

Về quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, đại biểu Nguyễn Quang Tuấn nhất trí việc không thành lập quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, cho rằng, theo Nghị quyết Trung ương 5 của Đảng đang hướng về nền kinh tế thị trường, để cơ chế thị trường điều tiết thị trường nhiều hơn là sự can thiệp hành chính của nhà nước nên việc hạn chế thành lập các quỹ là thực sự cần thiết.

Về chính sách của Nhà nước trong hoạt động thủy sản, đại biểu Trần Thị Phương Hoa cho rằng trong thời gian qua, Chính phủ đã ban hành rất nhiều chính sách để đầu tư, hỗ trợ, khuyến khích ngư dân ra khơi khai thác thủy sản, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên đại biểu đề nghị cần thể hiện cụ thể thêm các chính sách của Đảng nhà nước để đảm bảo tính khả thi trong việc đầu tư hỗ trợ ngư dân…

Ngọc Ánh - Thanh Hà

Lượt xem: 620

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.