Thảo luận tại hội trường về Dự thảo Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi)

Dự thảo Luật Khoa học và công nghệ (sửa đổi) đã xác định một số cơ chế để huy động nguồn đầu tư của xã hội, đặc biệt là đầu tư của doanh nghiệp cho nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ, chính sách thu hút nguồn lực nước ngoài. Phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện các đề tài, dự án KHCN cũng có những bước đổi mới trong quy trình tuyển chọn đề tài, dự án.

Ngoài việc kế thừa những giá trị có tính thực tiễn của luật hiện hành, Dự thảo Luật Khoa học và công nghệ (sửa đổi) đã xác định một số cơ chế để huy động nguồn đầu tư của xã hội, đặc biệt là đầu tư của doanh nghiệp cho nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ, chính sách thu hút nguồn lực nước ngoài. Phương thức xây dựng và tổ chức thực hiện các đề tài, dự án KHCN cũng có những bước đổi mới trong quy trình tuyển chọn đề tài, dự án: Quy định Bộ Khoa học và Công nghệ cũng như các bộ, ngành có trách nhiệm đặt hàng các đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ; quy định trách nhiệm về đề xuất đề tài gắn với việc tiếp nhận kết quả nghiên cứu và chuyển giao kết quả đó vào thực tiễn.

Về cơ chế tài chính, Dự thảo Luật sửa đổi sẽ khắc phục cơ bản những tồn tại hiện nay, vừa bảo đảm kỷ luật tài chính, chống thất thoát, vừa tạo cơ chế phân bổ, sử dụng, kiểm soát việc sử dụng kinh phí phù hợp với đặc thù của hoạt động KHCN, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân hoạt động KHCN. Ví dụ như việc áp dụng cơ chế khoán chi, áp dụng cơ chế quỹ, cơ chế đặt hàng nhiệm vụ KHCN. Với cơ chế này, các đề tài, dự án sẽ không phải đợi kinh phí quá lâu, đồng thời không phải quyết toán theo năm tài chính, có thể chủ động chuyển nguồn, đơn giản hóa các thủ tục hóa đơn, chứng từ. Đặc biệt, với Dự thảo lần này, lần đầu tiên cơ chế khoán đến sản phẩm cuối cùng cho KHCN đã được đề cập, tức là đề tài nào có sản phẩm cuối cùng đúng như tiêu chí thì sẽ được quyết toán, không cần phải có quá nhiều hóa đơn chứng từ giải trình phức tạp như trước đây.

Đại biểu Đoàn Hà Nội tại hội trường Kỳ họp thứ 5

Qua 14 lượt ý kiến đại biểu Quốc hội, đa số ý kiến cho rằng Dự thảo Luật trình Quốc hội lần này đã được Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ đạo cơ quan thẩm tra và cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu tiếp thu một cách nghiêm túc, đầy đủ các ý kiến của đại biểu Quốc hội tại Kỳ họp thứ tư và đề nghị Quốc hội thông qua để sớm tạo điều kiện cho khoa học công nghệ nước nhà tiếp tục phát triển, thực sự là động lực cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở nước ta.

Phát biểu về những vấn đề còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật, đại biểu Trịnh Ngọc Thạch - Đoàn ĐBQH Hà Nội cho rằng dự thảo Luật thiên về điều chỉnh lĩnh vực khoa học gắn với công nghệ, lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn còn mờ nhạt do đó để phù hợp với phạm vi điều chỉnh thì tên gọi của dự thảo Luật là Luật Khoa học công nghệ. Đại biểu cũng cho rằng dự thảo Luật quy định vai trò của nhà nước chi phối quá nhiều trong mọi lĩnh vực tổ chức, hoạt động khoa học công nghệ, ông liệt kê “tôi đếm ở đây thấy có 49/83 điều nói quan hệ trực tiếp quản lý của Nhà nước thực hiện với cộng đồng khoa học, rất nhiều chữ như "Nhà nước cho phép, Nhà nước giao nhiệm vụ, Nhà nước cấm, Nhà nước khen, Nhà nước quy hoạch, Nhà nước công nhận, Nhà nước ưu đãi”. Ông cũng đề nghị cần cân nhắc sử dụng cụm từ “ưu tiên”, “ưu đãi”: “Có một trang đếm được 14 từ ưu đãi, ưu tiên, việc này các nhà khoa học rất phấn khởi nhưng tôi nghĩ từ ngữ này chúng ta nên tiết kiệm một chút. Hiện nay ưu tiên, ưu đãi nhiều lắm về khoa học chưa có gì gọi là ưu tiên lắm, các nhà khoa học hiện nay rất vất vả”

Về chính sách của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ (Điều 6), đại biểu Bùi Thị An đề nghị cần quy định cụ thể về phát triển công nghệ cao trong đó chú trọng ưu tiên phát triển công nghệ phần mềm tin học. Bà phát biểu: “Tôi nghĩ với Việt Nam sau khi quan sát các em học sinh tốt nghiệp ra trường giai đoạn nhiều năm tôi nói thật với tư chất rất thông minh so sánh với các nước trong khu vực và thậm chí các nước cả Châu Âu cũng không kém. Tôi thấy các em tiếp cận những phần mềm rất nhanh chóng, tôi nghĩ rằng ở đây trong trường hợp Việt Nam tôi đề nghị có lẽ trong giai đoạn tới chuyện tổ chức tiến hành sản xuất các phần mềm vừa xuất khẩu và phục vụ trong nước tôi cho việc này là một cơ hội rất tốt. Vì nguồn nhân lực chúng ta có, tuy rằng chưa đủ thì ta có thể đào tạo được, đầu tư không cần lớn. Việc này cũng là bài học và nhất là Ấn Độ tôi nghĩ là so sánh thì khập khễnh và cũng không phải học tất cả của thế giới nhưng nước Ấn Độ họ xuất phát điểm cũng là nước nghèo nhưng bây giờ đến năm 2012 theo thông báo họ xuất khẩu phần mềm đã được 100 tỷ đô. Tôi nghĩ Việt Nam ta nếu đầu tư tốt thì trong những năm tới tôi nghĩ cũng có thể thu được”

Về sử dụng nhân lực, trọng dụng nhân tài trong khoa học và công nghệ (Điều 23) đại biểu Đinh Xuân Thảo đề nghị để tên gọi phù hợp với nội dung nên đổi tên Điều này thành “chính sách ưu đãi đối với cá nhân hoạt động khoa học, công nghệ”…

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 388

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.