Thảo luận tại hội trường về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019

Tiếp theo chương trình kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 3/6/2019 Quốc hội thảo luận về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, Đoàn ĐBQH Hà Nội có đại biểu Nguyễn Anh Trí và Dương Minh Ánh phát biểu.

Tiếp theo chương trình kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIV, chiều ngày 3/6/2019 Quốc hội thảo luận về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh  năm 2020, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, Đoàn ĐBQH Hà Nội có đại biểu Nguyễn Anh Trí và Dương Minh Ánh phát biểu.

Đại biểu Nguyễn Anh Trí cho rằng hoạt động xây dựng lập pháp thực sự là cách thể hiện, là sự khẳng định quyền lực của Quốc hội.

Vấn đề thứ nhất, về nguyên tắc lập Chương trình năm 2020 và điều chỉnh Chương trình năm 2019 có 5 nguyên tắc được thể hiện tại trang 3, tóm tắt trình bày của Thường vụ Quốc hội. Đại biểu Trí đồng ý và nhấn mạnh nguyên tắc thứ 3, đó là ưu tiên đưa vào chương trình các dự án để triển khai thực hiện các Nghị quyết, kết luận của trung ương, chỉ đạo của Bộ Chính trị, của Ban Bí thư. Đây phải là một ưu tiên thực sự, đảng lãnh đạo tuyệt đối các ý kiến của trung ương, của Bộ Chính trị rất trí tuệ, rất đúng đắn và mang hơi thở cuộc sống. Tuy nhiên, để triển khai được phải có luật, phải được luật hóa. Ví dụ, Nghị quyết trung ương về sự gương mẫu nếu thấy mình sai, không đủ điều kiện, không còn tín nhiệm thì nên chủ động từ chức. Thực tế từ khi ra đời đến nay, đặc biệt qua vụ gian lận về thi cử trầm trọng như vậy nhưng có mấy ai xin từ chức đâu. Cho nên Đại biểu Trí đề nghị Quốc hội phải luật hóa về vấn đề từ chức. Hoặc trung ương nói có nghị quyết về kinh tế tư nhân là động lực, trên thực tế kinh tế tư nhân sẽ không trở thành động lực được nếu không sửa đổi các văn bản pháp luật.

ĐB Nguyễn Anh Trí phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Về điều chỉnh Chương trình năm 2019 và Chương trình năm 2020, Đại biểu Trí nêu 2 đề xuất:

Đề xuất thứ nhất, cần bổ sung Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 phải được sửa đổi vào năm 2020 vì bảo hiểum y tế và y tế hiện nay tôi có thể khẳng định rằng họ đang rất nỗ lực, để giải quyết, tìm cách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Nhưng trên thực tế, còn rất nhiều vướng mắc. Từ nguyên tắc, từ thực tiễn, từ vấn đề thực hiện, từ sự phát triển về quy mô, về phạm vi .v.v. cho nên rất mong muốn được sớm đưa vào để sửa chữa. Việc này tôi đã có ý kiến trong kỳ họp thứ 4.

Đề xuất thứ hai, Luật Khám chữa bệnh (sửa đổi). Đáng lẽ phải cho ý kiến kỳ họp thứ 7, nay lùi sang kỳ họp thứ 8 như đề nghị của Chính phủ là được. Đừng lùi qua kỳ họp thứ 9 nữa. Nếu được thì nên giải quyết sớm vấn đề này.

Trong việc xây dựng luật cần lắng nghe nhiều hơn các ý kiến phản biện của nhân dân, đặc biệt là các luật liên quan đến nhiều tầng lớp, nhiều đối tượng, nhiều lứa tuổi trong xã hội. Tôi lấy ví dụ, gần đây nhất, cụ thể trong kỳ họp này đó là Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia và Bộ luật Lao động (sửa đổi).

Thứ nhất, cần công khai hơn việc xin ý kiến rộng rãi và xin lắng nghe nhiều hơn, xem xét kỹ hơn, đặc biệt là những ý kiến trái chiều, Quốc hội, Chính phủ mặc dù đã có kênh rồi nhưng phải sắc sảo hơn nữa để lấy ý kiến của nhân dân công khai, thuận lợi và xem xét thật sự. Xin nhấn mạnh chỉ có công khai, cởi mở, mạnh dạn tiếp thu mới đạt được sự đồng thuận cao thì luật mới có sức sống. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành thậm chí các địa phương cũng có ngay các biện pháp thật hiệu quả và thật nghiêm khắc để hạn chế, ngăn chặn các ý kiến thiếu xây dựng, mang tính bôi nhọ tổ chức, nhất là nói về Quốc hội, đất nước, cá nhân, đặc biệt là các đại biểu Quốc hội. Chúng ta tôn trọng dân chủ, thực thi dân chủ nhưng phải là dân chủ xây dựng. Chúng ta tôn trọng đối thoại nghiêm túc.

Đại biểu Dương Minh Ánh đề xuất với Quốc hội bổ sung thêm dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính đưa vào nội dung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội tới đây để Quốc hội cho ý kiến. Đại biểu Trí nêu 3 lý do cần phải đưa nội dung này vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020 đó là:

Thứ nhất, hiện nay những người trong cộng đồng LGBT tại Việt Nam bao gồm những người đồng tính, song tính và hoán tính hay còn gọi là người chuyển giới chiếm một số lượng lớn khoảng 700.000 người. Đó là chưa kể những người chưa dám công khai về bản dạng giới, họ ở nhiều độ tuổi, lĩnh vực, ngành nghề khác nhau và là bộ phận dân cư trong xã hội nước ta. Trong Hiến pháp năm 2013, cộng đồng LGBT nói chung và người chuyển giới nói riêng sẽ có đầy đủ quyền con người, quyền công dân như những cá nhân khác và được quyền đóng góp cho các lĩnh vực của đời sống xã hội.

ĐB Dương Minh Ánh phát biểu (Ảnh: Minh Tú)

Tuy nhiên, trên thực tế họ đang phải đối diện với sự phân biệt đối xử, kỳ thị, xâm phạm nhân phẩm, danh dự trong đời sống xã hội, việc làm, sinh hoạt cộng đồng và ngay cả trong gia đình của họ, chỉ vì họ muốn được sống với chính bản dạng giới của mình. Vì không được sự chấp nhận của cộng đồng xã hội, nhiều người chuyển giới phải sống trong sự giả dối, lo sợ, mặc cảm với bản thân. Nhiều người vì mong muốn được sống đúng với chính mình, họ chấp nhận rủi ro và chấp nhận trả giá bằng cả tính mạng và tuổi thọ của mình để thực hiện việc phẫu thuật giới tính. Họ được coi là người yếu thế trong xã hội, vì vậy cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật nhằm định hướng cách nhìn nhận, ứng xử của cộng đồng xã hội đối với người chuyển giới một cách khách quan, đúng đắn nhằm đảm bảo được các quyền của người chuyển giới.

Lý do thứ hai, mặc dù trong thời gian qua đã có những nỗ lực rất lớn và tạo ra các bước đột phá trong việc công nhận một số quyền cho người chuyển giới như cho phép người chuyển đổi giới tính và xác định quyền nhân thân của người chuyển đổi giới tính, giải quyết các vấn đề hộ tịch của người chuyển đổi giới tính và được phép thay tên, đổi họ v.v... được thể hiện trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều đó đã thể hiện tính ưu việt trong chính sách và sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta đối với đối tượng yếu thế này.

Tuy nhiên, quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 chỉ mang tính nguyên tắc, chưa cụ thể, rõ ràng. Các điều trong bộ luật còn quy định chung chung nên chưa thực thi được trong thực tế. Trong khi đó, người chuyển đổi giới có rất nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến lao động, việc làm, điều kiện sống, các dịch vụ y tế liên quan đến chuyển đổi giới tính, sự công nhận về tình trạng hôn nhân, các quan hệ gia đình được xác nhận trước và sau khi chuyển đổi giới tính v.v... nên không thể chỉ gói gọn trong một số điều của Bộ luật Dân sự mà cần phải được quy định cụ thể trong văn bản luật chuyên biệt. Do vậy, chỉ đến khi nào Quốc hội ban hành Luật Chuyển đổi giới tính cùng với việc điều chỉnh một số luật như Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch, Luật Bảo hiểm xã hội, Bộ luật Lao động (sửa đổi) v.v... thì các chính sách này mới có thể thực thi được trong thực tế và đó là điều mong ước khát khao và được chờ đợi từ bao lâu nay của cộng động LGBT của Việt Nam nói chung và người chuyển giới nói riêng.

Lý do thứ ba, năm 2015 tại Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam là một trong số nhiều quốc gia trên thế giới ký kết và bỏ phiếu thông qua Nghị quyết Chống lại việc phân biệt đối xử và bạo lực nhằm bảo vệ người đồng tính, song tính và chuyển giới. Do vậy, nhằm đảm bảo việc thực thi các điều ước quốc tế, Quốc hội cần phải có trách nhiệm trong việc xây dựng chính sách để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cộng đồng LGBT nói chung trong đó có người chuyển giới nói riêng. Chính vì vậy, đại biểu Minh Ánh đề nghị Chính phủ sớm ban hành hoàn thiện hồ sơ dự thảo luật chuyển đổi giới tính để trình Quốc hội cho ý kiến. Đồng thời, đề nghị Quốc hội xem xét đưa dự thảo luật chuyển đổi giới tính vào nội dung chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2020.

 

Lượt xem: 554

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.