Thảo luận về Luật An toàn vệ sinh lao động: Xây dựng môi trường an toàn cho tất cả người lao động

Tiếp tục chương trình làm việc Kỳ họp thứ 9, sáng 25/5, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Tòng Thị Phóng, Quốc hội đã thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật an toàn, vệ sinh lao động. Đại đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với việc mở rộng đối tượng áp dụng đối với tất cả người lao động nhằm xây dựng môi trường lao động an toàn.

Tiếp tục chương trình làm việc Kỳ họp thứ 9, sáng 25/5, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Tòng Thị Phóng, Quốc hội đã thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật an toàn, vệ sinh lao động. Đại đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với việc mở rộng đối tượng áp dụng đối với tất cả người lao động nhằm xây dựng môi trường lao động an toàn.

Dự án Luật an toàn vệ sinh lao động đã được Quốc hội thảo luận, cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 8. Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu ý kiến của các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ và hội trường cũng như tổng hợp ý kiến của các đoàn đại biểu Quốc hội, dự thảo luật đã được chỉnh lý, hoàn thiện để trình ra Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp này.

Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội Trương Thị Mai

Trình bày Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự án Luật an toàn, vệ sinh lao động tại phiên họp, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Trương Thị Mai cho biết: Về việc mở rộng đối tượng áp dụng và chính sách đối với khu vực không có quan hệ lao động, dự án Luật đã quy định cụ thể các chính sách đối với người lao động ở khu vực không có quan hệ lao động bao gồm: quyền và nghĩa vụ của người lao động (Điều 6); thông tin, tuyên truyền, giáo dục về an toàn, vệ sinh lao động (Điều 13); huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động (Điều 14); khai báo, thống kê, báo cáo tại nạn lao động, sự cố an toàn lao động (Điều 35, 37); điều tra tai nạn lao động, sự cố an toàn lao động nghiêm trọng (Điều 36); chính sách bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện cho người lao động (khoản 3 Điều 6); khuyến khích người lao động nâng cao ý thức phòng ngừa tại nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cơ quan nhà nước trong việc hướng dẫn người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động (Điều 8, 9, 10, 11, 84).

Về chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc và chính sách hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp: dự thảo Luật đã chỉnh lý 2 chính sách mới được bổ sung trong dự thảo Luật nhằm nâng cao ý thức đối với công tác an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc cho người lao động, người chủ sử dụng lao động cũng như tạo điều kiện cho người lao động hòa nhập lại thị trường lao động sau khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp tại Điều 56 và 57.

Về mức đóng bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp linh hoạt theo ngành nghề có nguy cơ cao về tai nạn lao động, dự thảo Luật đã quy định mức đóng tối đa 1% thay cho mức đóng cố định 1% như trước đây. Đồng thời, giao Chính phủ căn cứ vào tình hình kết dư của Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp để quyết định mức đóng cụ thể như quy định tại Điều 45.

Thảo luận tại phiên họp, đại đa số ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành với việc mở rộng đối tượng áp dụng đối với tất cả người lao động. Các đại biểu cho rằng, việc mở rộng đối tượng áp dụng của dự án Luật đối với người lao động thuộc khu vực không có quan hệ lao động là thể chế hóa quan điểm của Đảng, Điều 35 của Hiến pháp và các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia nhằm xây dựng môi trường an toàn cho người lao động trong khu vực này.

Về chính sách bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, đa số các vị đại biểu bày tỏ sự đồng tình cao với việc bổ sung này. Các đại biểu phân tích, 2 chính sách này nhằm nâng cao ý thức đối với công tác an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc cho người lao động và người sử dụng lao động cũng như tạo điều kiện cho người lao động hòa nhập lại thị trường lao động sau khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp.

Các đại biểu cho rằng, việc bổ sung 2 chính sách mới trong chế độ bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp được quy định ở Điều 56, Điều 57 đã thể hiện tính nhân văn trong luật pháp nước ta, nhằm bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động.

Khẩn trương công bố danh mục bệnh nghề nghiệp, đó là ý kiến của Đại biểu Quốc hội Trần Thanh Hải (Đoàn TP.Hồ Chí Minh) – Phó Chủ tịch TLĐLĐVN. Liên quan đến rà soát, xây dựng danh mục bệnh nghề nghiệp, theo đại biểu Trần Thanh Hải là còn nhiều điều chưa phù hợp. Ông cho rằng, rà soát bệnh nghề nghiệp nếu chỉ căn cứ vào tình hình phát triển kinh tế, xã hội là xem đất nước ta hiện nay như bối cảnh đất nước năm 1976 với 8 bệnh nghề nghiệp đầu tiên được công bố. Do nền kinh tế và khả năng tổ chức thực hiện hạn chế, liên bộ Y tế và LĐTBXH bước đầu chỉ công bố một số bệnh nghề nghiệp được hưởng BHXH.

“Sau 38 năm, quy mô phát triển kinh tế có chuyển mình lớn nhưng chỉ công bố thêm 21 bệnh nghề nghiệp, nâng tổng số bệnh nghề nghiệp lên thành 29. Trong khi đó, tổ chức quốc tế đã ban hành danh mục 54 nhóm với 105 bệnh nghề nghiệp. Không chỉ dựa vào căn cứ điều kiện về kinh tế, tôi đề nghị bổ sung thêm ba căn cứ xác định bệnh nghề nghiệp là môi trường lao động, thiết bị và công nghệ” – đại biểu Trần Thanh Hải Kiến nghị.

Theo ông Trần Thanh Hải, sức khỏe người lao động có quan hệ chặt chẽ đến hiệu quả và an toàn lao động. Tuy nhiên, điều 26 dự luật quy định một cách mơ hồ là tùy điều kiện cụ thể, người sử dụng lao động có thể tổ chức cho người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và người lao động có sức khoẻ kém được điều dưỡng phục hồi sức khỏe. Với quy định này, sẽ khó khăn cho người lao động cần thiết được điều dưỡng phục hồi sức khỏe.

Một số đại biểu đề nghị, Chính phủ cần đơn giản hóa quy trình, thủ tục, hồ sơ chuyển đổi nghề nghiệp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc, cũng như hỗ trợ các hoạt động phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tạo điều kiện cho người lao động hòa nhập lại môi trường lao động sau khi bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp.

Trong phiên họp sáng nay, các đại biểu cũng đã thảo luận về các nội dung: việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn, vệ sinh lao động; các biện pháp xử lý tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc và đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh; hệ thống kiểm soát rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động; Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi điều trị thương tật, bệnh tật; trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; Quyền, trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong công tác an toàn, vệ sinh lao động; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động…

Đại biểu Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội Bùi Thị An chia sẻ: "Vừa qua, nhiều chủ tư nhân thuê lao động khai khoáng chui, khi xảy ra tai nạn, không ai kiểm tra, đánh giá được họ có đền bù cho người lao động hay không?". Theo Đại biểu An, không ít doanh nghiệp chỉ quan tâm đến lợi nhuận, chỉ khi xảy ra tai nạn lao động gây chết người, chính quyền địa phương nêu ra doanh nghiệp mới đứng ra chịu trách nhiệm. Bên cạnh đó, Đại biểu Bùi Thị An cũng đề nghị nghiên cứu, bổ sung việc chăm sóc sức khỏe cho người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Đối với tai nạn lao động, có thể dễ dàng nhận thấy song bệnh nghề nghiệp mang tính chất tích tụ 10 – 20 năm sau phát bệnh...

Dự kiến, ngày 25/6, Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua Luật An toàn vệ sinh lao động. 

MINH TÚ

Lượt xem: 695

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.