Thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch

Sáng 20/11, với 418 đại biểu Quốc hội tán thành, chiếm 86,19% tổng số đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch. Trong đó chính thức bãi bỏ quy hoạch xây dựng tỉnh mà tích hợp nội dung này vào Quy hoạch tỉnh

Sáng 20/11, với 418 đại biểu Quốc hội tán thành, chiếm 86,19% tổng số đại biểu Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 37 Luật liên quan đến quy hoạch. Trong đó chính thức bãi bỏ quy hoạch xây dựng tỉnh mà tích hợp nội dung này vào Quy hoạch tỉnh.

Quốc hội thông qua Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật liên quan đến quy hoạch (Ảnh: Minh Tú)

Trong báo cáo giải trình, tiếp thu Dự án Luật trước khi biểu quyết thông qua, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cho biết: Một số ý kiến đề nghị không lập Quy hoạch xây dựng tỉnh vì nội dung, mức độ chi tiết của Quy hoạch xây dựng tỉnh trùng với Quy hoạch tỉnh tại Luật Quy hoạch. Một số ý kiến khác đề nghị cần có Quy hoạch xây dựng tỉnh với tính chất là quy hoạch kỹ thuật, chuyên ngành để cụ thể hóa Quy hoạch tỉnh và là công cụ quan trọng trong quản lý đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh. Có ý kiến đề nghị xin ý kiến đại biểu Quốc hội về nội dung này. Có ý kiến cho rằng, việc bỏ nội dung quy hoạch xây dựng tỉnh đồng nghĩa với việc phải thay đổi lại toàn bộ hệ thống đồ án quy hoạch xây dựng tỉnh của Việt Nam được xây dựng từ trước đến nay.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định, do đây là vấn đề mới và còn nhiều ý kiến khác nhau, để bảo đảm thận trọng, khách quan, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Tổng Thư ký Quốc hội gửi Phiếu xin ý kiến các vị đại biểu Quốc hội về nội dung nêu trên. Kết quả có 217/469 phiếu (46,26%) đồng ý phương án 1 (Quy hoạch xây dựng tỉnh được lập là quy hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành để cụ thể hóa Quy hoạch tỉnh); 251/469 phiếu (53,51%) đồng ý phương án 2 (Quy hoạch xây dựng tỉnh được tích hợp trong Quy hoạch tỉnh để bảo đảm sự đồng bộ, tránh chồng chéo, trùng lặp).

Theo Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh, sau khi xem xét toàn diện và trên cơ sở kết quả lấy phiếu xin ý kiến nêu trên, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin tiếp thu và chỉnh lý khoản 2 Điều 28 dự thảo Luật (sửa đổi Điều 13 Luật Xây dựng) theo hướng không tiếp tục lập Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh (Quy hoạch xây dựng tỉnh) mà tích hợp nội dung này vào Quy hoạch tỉnh để bảo đảm không trái với các nguyên tắc xây dựng Luật và tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống quy hoạch. Các loại quy hoạch khác còn lại trong quy hoạch xây dựng (thuộc phụ lục 2 của Luật Quy hoạch) như quy hoạch xây dựng vùng liên huyện, quy hoạch xây dựng vùng huyện, quy hoạch xây dựng khu chức năng, quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn tiếp tục được lập theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về quy hoạch đô thị để cụ thể hóa quy hoạch tỉnh. Với nội dung của Quy hoạch tỉnh được quy định tại Điều 27 của Luật Quy hoạch bảo đảm đủ căn cứ để quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh. Trong giai đoạn chuyển tiếp, các quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt theo pháp luật về xây dựng vẫn được thực hiện cho đến khi quy hoạch tỉnh được phê duyệt theo pháp luật về quy hoạch.

Về ý kiến đề nghị làm rõ thứ bậc của quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn được quy định tại nội dung sửa đổi Điều 13 Luật Xây dựng vì không phù hợp với thứ bậc của 2 loại quy hoạch này trong hệ thống quy hoạch quốc gia đã được Luật Quy hoạch quy định, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ rõ: Khoản 4 Điều 6 Luật Quy hoạch quy định quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn phải phù hợp với quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng và quy hoạch tỉnh. Các quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn sẽ cụ thể hóa phương án phát triển hệ thống đô thị, nông thôn trong quy hoạch tỉnh.

“Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, để làm rõ thứ bậc của các loại quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin chỉnh lý quy định tại Điều 13 Luật Xây dựng như được thể hiện tại khoản 2 Điều 28 dự thảo Luật”- Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh cho biết.

Liên quan đến các nội dung sửa đổi, bổ sung Luật Quy hoạch đô thị, một số ý kiến cho rằng nội dung quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương không trùng lặp với nội dung quy hoạch tỉnh và phù hợp với Luật Quy hoạch, đề nghị nghiên cứu, xem xét kỹ lưỡng để tránh tình trạng các thành phố trực thuộc trung ương thiếu đi một công cụ quy hoạch quan trọng. Theo Chủ nhiệm Vũ Hồng Thanh, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy: Trên thực tiễn, các thành phố trực thuộc trung ương có vai trò động lực phát triển đối với các vùng và cả nước, có mật độ đô thị hóa và tốc độ đô thị hóa rất cao, khối lượng đầu tư xây dựng lớn. Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc trung ương đã tổ chức lập quy hoạch chung đô thị và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt làm cơ sở để quản lý, đầu tư phát triển đô thị. Do vậy, việc tổ chức lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch chung theo quy định của Luật Quy hoạch đô thị sẽ bảo đảm các đô thị này phát triển hiệu quả, bền vững, đồng bộ. Với lý do đó, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho giữ quy định về quy hoạch chung thành phố trực thuộc Trung ương tại Luật Quy hoạch đô thị.

Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Quy hoạch thì Quy hoạch tỉnh cũng được lập ở thành phố trực thuộc Trung ương. Do đó, cần xác định rõ mối quan hệ giữa 2 quy hoạch cùng cấp đều điều chỉnh về tổ chức không gian đô thị này, tránh chồng chéo, lãng phí, mâu thuẫn về nội dung giữa 2 quy hoạch; bảo đảm khai thác hiệu quả các nguồn lực trong triển khai thực hiện; đáp ứng yêu cầu quản lý, xây dựng và phát triển đô thị, phù hợp với điều kiện thực tiễn của các thành phố trực thuộc Trung ương. Do vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin bổ sung quy định tại khoản 3 Điều 29 dự thảo Luật (sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 18 Luật Quy hoạch đô thị) như sau: “a) Quy hoạch chung được lập cho thành phố trực thuộc trung ương, thành phố thuộc tỉnh, thị xã, thị trấn và đô thị mới. Quy hoạch chung thành phố trực thuộc trung ương cụ thể hóa quy hoạch tỉnh được lập ở thành phố trực thuộc trung ương về tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho thành phố trực thuộc Trung ương”.

Lượt xem: 640

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.