Thông qua Luật tiếp công dân
Ngày 25/11, với 84,14% số phiếu đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật tiếp công dân. Như vậy, Luật Tiếp công dân gồm 9 chương, 36 điều, quy định rõ về trách nhiệm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân.
Ngày 25/11, với 84,14% số phiếu đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Luật tiếp công dân. Như vậy, Luật Tiếp công dân gồm 9 chương, 36 điều, quy định rõ về trách nhiệm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân, địa điểm tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị và các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân. Luật tiếp công dân cũng quy định cụ thể về việc tiếp đại diện của cơ quan, tổ chức đến khiếu nại, kiến nghị, phản ánh, tiếp người nước ngoài đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh được thực hiện như đối với tiếp công dân.
Các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Tiếp công dân
Luật Tiếp công dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014. Những quy định về tiếp công dân tại Chương V của Luật khiếu nại, tố cáo số 09/1998/QH10 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2004/QH11 và Luật số 58/2005/QH11, Chương V của Luật khiếu nại số 02/2011/QH13 hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Luật có hiệu lực.
Cụ thể các điểu khoản quy định về việc tiếp công dân của các cơ quan dân cử:
“CHƯƠNG V: TIẾP CÔNG DÂN CỦA CÁC CƠ QUAN CỦA QUỐC HỘI, ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP
Điều 20. Tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội
1. Các cơ quan của Quốc hội có trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân tại địa điểm tiếp công dân của Quốc hội hoặc nơi tiếp công dân do các cơ quan của Quốc hội lựa chọn khi cần thiết để tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cử tri.
2. Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm chỉ đạo, điều hòa, phối hợp và tổ chức việc tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội.
Ban Dân nguyện thuộc Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm giúp Ủy ban thường vụ Quốc hội trong việc tổ chức công tác tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; đại diện cho các cơ quan của Quốc hội thực hiện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân ở Trung ương và địa điểm tiếp công dân của Quốc hội.
3. Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội có trách nhiệm phân công đại diện Thường trực Hội đồng, Thường trực Ủy ban tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; nghiên cứu và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc lĩnh vực Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội phụ trách; phối hợp với Ban dân nguyện và các cơ quan hữu quan trong việc tiếp công dân khi cần thiết.
Điều 21. Tiếp công dân của đại biểu Quốc hội
1. Đại biểu Quốc hội tiếp công dân nhằm thu thập kiến nghị, phản ánh của công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn, thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Đại biểu Quốc hội thực hiện việc tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh hoặc nơi tiếp công dân do Đoàn đại biểu Quốc hội bố trí theo sự phân công của Trưởng đoàn đại biểu Quốc hội hoặc khi thấy cần thiết.
Lịch tiếp công dân của đại biểu Quốc hội được niêm yết tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh và trụ sở Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, đồng thời được thông báo cho đại biểu Quốc hội chậm nhất là 10 ngày, trước ngày đại biểu có lịch tiếp. Trường hợp không thể tham gia tiếp công dân theo lịch đã được thông báo, thì đại biểu Quốc hội báo cáo với Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chậm nhất là 05 ngày, trước ngày có lịch tiếp.
3. Khi công dân có yêu cầu gặp đại biểu Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thì đại biểu Quốc hội có trách nhiệm sắp xếp thời gian tiếp công dân; trường hợp chưa thể tiếp công dân được thì đại biểu Quốc hội cử người đại diện nhận đơn hoặc hẹn tiếp công dân vào thời gian thích hợp.
4. Đoàn đại biểu Quốc hội có trách nhiệm tổ chức để đại biểu Quốc hội tiếp công dân tại nơi tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội; giúp đại biểu Quốc hội chuyển đơn và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền giải quyết.
Điều 22. Tiếp công dân của Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
1. Đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân nhằm thu thập kiến nghị, phản ánh của công dân ở địa phương; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn, thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức để các đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân; sắp xếp lịch tiếp công dân của đại biểu Hội đồng nhân dân, bố trí công chức tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân cấp tỉnh, cấp huyện hoặc địa điểm tiếp công dân của Uỷ ban nhân dân cùng cấp đối với cấp xã hay tổ chức để đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp công dân tại các nơi tiếp công dân ở địa phương mà đại biểu ứng cử.
3. Đại biểu Hội đồng nhân dân thực hiện tiếp công dân theo lịch đã được phân công. Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có trách nhiệm nghiên cứu, trực tiếp đề xuất ý kiến hoặc thông qua Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp, ở cấp xã thì thông qua Chủ tịch Hội đồng nhân dân để yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết và theo dõi, đôn đốc việc giải quyết.
Điều 23. Quy định chi tiết việc tiếp công dân của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp
Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định chi tiết về việc tiếp công dân của các cơ quan Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp”.
Quốc Thịnh
Lượt xem: 422
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.