Thừa nhận nguyên tắc đa quốc tịch phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế

Các đại biểu Quốc hội cho rằng, việc thừa nhận nguyên tắc đa quốc tịch là bước tiến phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ pháp lý của nhiều quốc gia phát triển...

Các đại biểu Quốc hội cho rằng, việc thừa nhận nguyên tắc đa quốc tịch là bước tiến phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ pháp lý của nhiều quốc gia phát triển...

Tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, chiều 17-5, các đại biểu Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam; dự án Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi); dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu; Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư; Luật Hải quan; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.


Thượng tướng Trần Quốc Tỏ thảo luận tại tổ. Ảnh: Quochoi.vn

Bảo hộ công dân trong trường hợp đa quốc tịch

Thảo luận tại tổ, Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Thứ trưởng Thường trực Bộ Công an (Đoàn Bắc Ninh) nhấn mạnh sự cấp thiết của việc sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam. Trong đó, cần tập trung sửa đổi các quy định liên quan đến nhập, thôi, trở lại quốc tịch và những hệ lụy pháp lý phát sinh.

Thượng tướng Trần Quốc Tỏ đề nghị cần bổ sung các đánh giá chi tiết về tính tương thích, sự đồng bộ của quy định về nguyên tắc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Mặt khác, cần quy định rõ các nội dung cơ bản liên quan đến việc xác định nghĩa vụ của công dân Việt Nam khi đồng thời mang quốc tịch nước ngoài.

Bên cạnh đó, cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về cơ chế giải quyết các vấn đề phát sinh, tác động tiêu cực đến công tác bảo vệ an ninh quốc gia, quản lý công dân, vấn đề xung đột pháp lý và xử lý vi phạm đối với công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài.


Đại biểu Trần Thị Nhị Hà (Đoàn Hà Nội) thảo luận tại tổ. Ảnh: Như Ý

Theo đại biểu Trần Thị Nhị Hà (Đoàn Hà Nội), việc sửa đổi Luật Quốc tịch Việt Nam là bước đi quan trọng để “cởi trói” về mặt pháp lý, để người Việt Nam dù đang ở trong nước hay đang an cư, lạc nghiệp ở nước ngoài đều có thể chung tay góp sức, đồng tâm, hiệp lực đưa quê hương - đất nước mình bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Liên quan đến việc cho phép người xin nhập quốc tịch Việt Nam được giữ quốc tịch nước ngoài, đại biểu cho rằng, việc thừa nhận nguyên tắc đa quốc tịch là bước tiến phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế và thông lệ pháp lý của nhiều quốc gia phát triển.

Tuy nhiên, dự thảo hiện còn thiếu một nội dung rất quan trọng quy định về bảo hộ công dân trong trường hợp đa quốc tịch. Thực tiễn quốc tế đã ghi nhận nhiều trường hợp xung đột ngoại giao phát sinh khi một công dân mang nhiều quốc tịch gặp vấn đề pháp lý ở nước thứ ba - lúc này có nhiều quốc gia cùng tuyên bố quyền bảo hộ, hoặc không quốc gia nào đứng ra bảo hộ vì không xác định được quốc tịch “hiệu lực” tại thời điểm đó.

“Dự thảo cần bổ sung nguyên tắc về xác định quốc tịch hiệu lực trong trường hợp đa quốc tịch, làm cơ sở để Việt Nam thực hiện quyền và nghĩa vụ bảo hộ công dân khi họ sinh sống, làm việc hoặc gặp rủi ro pháp lý ở nước ngoài”, bà Trần Thị Nhị Hà kiến nghị.

Thảo luận tại tổ, đại biểu Hoàng Văn Cường (Đoàn Hà Nội) quan tâm đến dự án Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi). Đại biểu nhất trí với báo cáo thẩm tra với mong muốn tăng cường vai trò của địa phương trong việc tự chủ tạo ra nguồn lực của mình, không trông chờ vào ngân sách trung ương.


Đại biểu Hoàng Văn Cường (Đoàn Hà Nội) thảo luận. Ảnh: Như Ý

Đối với thành phố Hà Nội, đã có Luật Thủ đô sửa đổi năm 2024 với nhiều cơ chế, chính sách để có thêm nhiều nguồn lực phát triển. Trong Luật Thủ đô sửa đổi ghi rõ, sau này những luật khác ban hành nếu có điều khoản nào trái thì sẽ căn cứ theo Luật Thủ đô. Tuy nhiên, trong dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi) dự kiến sẽ bỏ Khoản 7, Điều 34 của Luật Thủ đô.

Đại biểu Hoàng Văn Cường cho rằng, việc bỏ Khoản 7 này phải cân nhắc kỹ vì những đặc thù về vị trí địa chính trị của Thủ đô. Theo đại biểu, việc giữ lại ngân sách trên để Hà Nội đầu tư cho nhiều công trình hạ tầng quan trọng, đặc biệt hỗ trợ cho việc di dời các cơ quan, đơn vị theo Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2045, tầm nhìn đến năm 2065. Đây là cơ chế để Hà Nội tạo thêm nhiều nguồn lực phát triển.

Về các khoản thu phân chia và tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (Khoản 2 Điều 35), đại biểu Nguyễn Thành Trung (Đoàn Yên Bái) cho biết, so với quy định của luật hiện hành, dự thảo Luật thay đổi phương thức phân chia nguồn thu giữa ngân sách trung ương và địa phương. Trong đó, bỏ thời kỳ ổn định ngân sách, bao gồm thời kỳ ổn định tỷ lệ phần trăm phân chia các khoản thu giữa các cấp ngân sách và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới trong thời gian 5 năm, trùng với kỳ kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm hoặc theo quyết định của Quốc hội.

Đại biểu Nguyễn Thành Trung thống nhất với ý kiến của Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội theo phương án 2, khi xây dựng dự toán ngân sách nhà nước hằng năm sẽ trình Quốc hội xác định cụ thể tỷ lệ phân chia, số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.

“Quy định như vậy đảm bảo với việc bỏ thời kỳ ổn định ngân sách như luật hiện hành, phù hợp với nguyên tắc tại Khoản 7 Điều 9, xác định được số bổ sung cân đối của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương căn cứ theo tình hình thực tế và thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, đảm bảo vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương”, đại biểu Nguyễn Thành Trung bày tỏ.

Lượt xem: 57

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.