Tích cực, chủ động triển khai thi hành Luật Phòng, chống thiên tai trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đẩy mạnh việc triển khai, đưa luật vào cuộc sống, UBND TP Hà Nội đã xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống thiên tai trên địa bàn. Trong đó, xác định trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, quận, huyện, thị xã; kiện toàn tổ chức các đơn vị chuyên trách, kiêm nhiệm của các cơ quan, đơn vị; xây dựng cơ chế phối hợp trong công tác phòng, chống thiên tai để triển khai thi hành có hiệu quả pháp luật về phòng, chống thiên tai, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra...

Ngày 19/6/2013, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội nước khoá XIII đã thông qua Luật Phòng, chống thiên tai và Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2014; Chính phủ cũng đã ban hành Nghị định số 66/2014/NĐ-CP ngày 04/7/2014 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống thiên tai...

Luật Phòng, chống thiên tai được ban hành đã thể chế hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống thiên tai, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền và lợi ích quốc gia; phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng địa phương trong giai đoạn hiện nay và các năm tiếp theo. Luật đã kế thừa và pháp điển hóa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh phòng, chống lụt bão và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan, đồng thời bổ sung những quy định mới đáp ứng yêu cầu thực tiễn, luật hóa một số quy định trong các văn bản dưới luật nhằm tăng giá trị pháp lý của các quy định này. Luật phù hợp với những thông lệ, các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, ký kết và dựa trên cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn về phòng, chống thiên tai giai đoạn trước.

Tìm kiếm, cứu hộ khi mưa lũ (Ảnh minh họa)

Luật Phòng, chống thiên tai bao gồm 6 chương, 47 điều, quy định thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm 19 loại hình thiên tai phổ biến: "bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần" và các loại thiên tai khác để có căn cứ pháp lý tổ chức thực hiện cụ thể và linh hoạt khi phát sinh loại thiên tai mới (như núi lửa, thiên thạch rơi, …).

Đẩy mạnh việc triển khai, đưa luật vào cuộc sống, UBND TP Hà Nội đã xây dựng Kế hoạch triển khai thi hành Luật Phòng, chống thiên tai trên địa bàn. Trong đó, xác định trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, quận, huyện, thị xã đảm bảo triển khai thi hành Luật Phòng, chống thiên tai kịp thời, thống nhất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Tổ chức phổ biến Luật Phòng, chống thiên tai đến các tầng lớp nhân dân, cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang trong phạm vi Thành phố; làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai. Kiện toàn tổ chức các đơn vị chuyên trách, kiêm nhiệm của các ngành, quận, huyện, thị xã; xây dựng cơ chế phối hợp trong công tác phòng, chống thiên tai để triển khai thi hành có hiệu quả pháp luật về phòng, chống thiên tai, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra.

Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn Thành phố có trách nhiệm giúp UBND Thành phố theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị; UBND cấp huyện đôn đốc Ban Chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiêm cứu nạn cấp huyện, UBND cấp xã... trong việc triển khai thực hiện thi hành Luật Phòng, chống thiên tai.

Đối với công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống thiên tai, UBND TP giao Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành uỷ biên soạn tài liệu phục vụ công tác phổ biến pháp luật về phòng, chống thiên tai; Sở Thông tin và Truyền thông chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình của Thành phố phổ biến pháp luật về phòng, chống thiên tai; Các sở, ngành, UBND quận, huyện, thị xã có trách nhiệm phổ biến Luật Phòng, chống thiên tai và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Sở Nông nghiệp và PTNT phối hợp với Sở Nội vụ, Sở Tài chính và các sở ban ngành liên quan tham mưu thành lập và triển khai hoạt động Quỹ Phòng, chống thiên tai Thành phố. Sở Nông nghiệp và PTNT, cơ quan Thường trực Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn có trách nhiệm phối hợp với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp trình UBND Thành phố phê duyệt dự toán ngân sách, đảm bảo nguồn kinh phí để triển khai Kế hoạch trên địa bàn Thành phố...

Ngay trong cao điểm trước mùa mưa bão 2015 này, UBND TP đã giao nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, đơn vị trên địa bàn phải kiện toàn xong Ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp; xây dựng, phê duyệt kế hoạch phòng, chống thiên tai; xây dựng và trình UBND các cấp phê duyệt phương án ứng phó với bão mạnh, siêu bão... Đảm bảo tổ chức phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong công tác phòng chống thiên tai nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do thiên tai gây ra, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững.

Toàn văn Luật Phòng, chống thiên tai

Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật 

Kế hoạch triển khai của UBND TP Hà Nội

Trương Minh Đức

Lượt xem: 418

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.