Tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Giá trị gia tăng
Việc bổ sung một số đối tượng không phải chịu thuế giá trị gia tăng như bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm con người, bảo hiểm nông nghiệp… và lĩnh vực dịch vụ đang trong thời gian bị trầm lắng như thị trường chứng khoán, dịch vụ tài chính, ngân hàng, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể…vào diện không phải chịu thuế là việc làm cần thiết thể hiện quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với việc chia sẻ những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay.
Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013 của Quốc hội và chương trình hoạt động năm 2013 của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội; theo yêu cầu của Văn phòng Quốc hội tại công văn ngày 25/4/2013 về việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào các dự án Luật trình Quốc hội xem xét và thông qua tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIII; ngày 07/5/2013, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, tổng hợp các ý kiến đóng góp như sau: I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ 1. Khoản 1 Điều 1 (Sửa đổi bổ sung khoản 4, 7, 8, 11, 15, 17, 23 và 25 Điều 5 Luật Thuế GTGT) Có ý kiến nhất trí với định hướng và quan điểm sửa đổi, bổ sung Điều này bằng việc đưa thêm một số đối tượng không phải chịu thuế giá trị gia tăng như bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm con người, bảo hiểm nông nghiệp… và lĩnh vực dịch vụ đang trong thời gian bị trầm lắng như thị trường chứng khoán, dịch vụ tài chính, ngân hàng, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể…Việc bổ sung một số đối tượng vào diện không phải chịu thuế là việc làm cần thiết thể hiện quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với việc chia sẻ những khó khăn của cộng đồng doanh nghiệp và người dân trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay. - Điểm h khoản 8 Điều 5: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc lại quy định này, vì việc ban hành quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của một tổ chức chưa được thành lập, chưa rõ về bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, lĩnh vực, hình thức hoạt động… là chưa hợp lý. - Khoản 25 Điều 5: Có ý kiến cho rằng việc xác định mức doanh thu, nhất là đối với các cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ là vấn đề không dễ, thực tế cho thấy không chỉ có hộ kinh doanh mà cả các doanh nghiệp thường tìm cách kê khai mức doanh thu thấp để không phải chịu thuế, do đó không quy định cụ thể mức doanh thu 100 triệu đồng ngay trong Luật vì cần tính đến trường hợp đồng tiền Việt Nam bị trượt giá cũng như tình hình thuận lợi, khó khăn của nền kinh tế, để đảm bảo tính linh hoạt, tránh việc phải sửa đổi bổ sung Luật nhiều lần, đề nghị giao cho Chính phủ quy định mức doanh thu cụ thể phù hợp với từng thời kỳ. 2. Khoản 3 Điều 1 (Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và điểm b Khoản 2 Điều 8 Luật Thuế GTGT) - Về khoản 1 Điều 8: Có ý kiến cho rằng hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT và hàng hóa, dịch vụ có thuế suất 0% hoàn toàn khác nhau (hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT sẽ không được khấu trừ thuế GTGT, ngược lại, hàng hóa, dịch vụ có thuế suất 0% thuộc loại chịu thuế GTGT và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào). Từ khi ban hành Luật Thuế GTGT năm 1997 đến nay danh mục hàng hóa không chịu thuế GTGT luôn luôn bị thay đổi vì những phát sinh tức thời, điều đó đã phá vỡ tính ổn định của Luật (một thuộc tính quan trọng nhất của các sắc thuế). Đề nghị viết lại khoản 1 như sau: “1.Mức thuế suất 0% áp dụng đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, vận tải quốc tế, hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng quy định tại Điều 5 của Luật này khi xuất khẩu và các trường hợp sau: -Chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ ra nước ngoài; … Hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu là hàng hoá, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, bao gồm cả tiêu dùng trong khu phi thuế quan và một số dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ” - Có ý kiến cho rằng để tạo được sự công bằng giữa các doanh nghiệp trong khu chế xuất và các doanh nghiệp khác cũng như hỗ trợ các doanh nghiệp trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay, đề nghị xem xét quy định mức thuế suất 0% đối với các doanh nghiệp hoạt động trong các khu chế xuất sử dụng dịch vụ bưu chính viễn thông. - Có ý kiến cho rằng hiện nay thuế GTGT ở đầu ra của khâu bán lẻ theo luật là 5% và 10% tuỳ theo nhóm hàng cụ thể là chưa hợp lý, vì hiện nay tồn kho hàng hóa công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng rất lớn, sức mua ở thị trường hiện nay rất thấp do thu nhập thực tế của người dân bị giảm sút. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định giảm mức thuế suất GTGT đầu ra cho người tiêu dùng xuống mức từ 5% đến 7% tuỳ theo nhóm hàng và thời điểm được áp dụng từ 01/7/2013. 3. Khoản 4 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 10 Luật Thuế GTGT) - Có ý kiến đề nghị bỏ khoản 2 Điều 10 vì quy định như dự thảo Luật sẽ dẫn đến những bất cập như: Tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế (các loại hình doanh nghiệp dù là doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn là các doanh nghiệp, được thành lập hợp pháp, có các quyền, nghĩa vụ theo Luật Doanh nghiệp); Triệt tiêu tính ưu việt quan trọng nhất của thuế GTGT so với thuế doanh thu trước đây là doanh nghiệp được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, tránh tình trạng thuế đánh chồng lên thuế; Doanh thu là chỉ tiêu không ổn định vì bị phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong thực tế sẽ khó thực hiện đối với doanh nghiệp mới thành lập và doanh thu có năm dưới 1 tỷ, có năm trên 1 tỷ. Hiện nay quy định về hóa đơn bán hàng có sự khác nhau rất cơ bản giữa doanh nghiệp thực hiện phương pháp khấu trừ và phương pháp trực tiếp, sẽ xảy ra trường hợp những doanh nghiệp nhỏ cũng phải in đồng thời hai loại hóa đơn để sử dụng khi doanh thu chưa đạt 1 tỷ, hoặc trên 1 tỷ; Mặt khác việc doanh nghiệp đăng ký “tự nguyện áp dụng theo phương pháp khấu trừ” chưa có quy định cụ thể, sẽ phát sinh cơ chế “ xin-cho” hoặc tạo ra “giấy phép con”. Đề nghị Nhà nước cũngkhông nên“khuyến khích ngược” dẫn đến các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân trở thành hộ kinh doanh cá thể. - Có ý kiến cho rằng Dự thảo sửa đổi Luật vẫn quy định áp dụng cả hai phương pháp tính thuế: phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng và phương pháp tính trực tiếp trên giá trị gia tăng là chưa hợp lý, xét về bản chất thì việc áp dụng phương pháp tính trực tiếp là xác định số thuế phải nộp theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu, việc xác định theo doanh thu để tính thuế là vấn đề rất khó kiểm soát vì doanh thu hàng năm của doanh nghiệp biến động thường xuyên, nếu áp ngưỡng doanh thu để tính thuế thì doanh nghiệp có thể “lách luật” bằng cách thay đổi phương pháp tính thuế theo năm nếu doanh thu dao động lên, xuống để trốn thuế. Do vậy, để đảm bảo cho việc tính thuế khoa học, tránh thất thu cho ngân sách Nhà nước, đề nghị dự thảo Luật quy định chỉ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế giá trị gia tăng. 4. Khoản 6 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 12 Luật Thuế GTGT) - Về điểm b, khoản 2 Điều 12: Có ý kiến cho rằng để tránh trường hợp lách luật trong khâu “thanh toán không dùng tiền mặt” và để quản lý tốt hơn cả chi phí, doanh thu và thuế, đề nghị viết lại như sau: “b) Có chứng từ thanh toán bằng chuyển khoản giữa ngân hàng bên mua và ngân hàng bên bán, thanh toán bù trừ công nợ đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ hàng hóa, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới mười triệu”. - Về điểm c, khoản 2 Điều 12: Với lý do tương tự như điểm b, khoản 2. Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “Thanh toán không dùng tiền mặt” bằng cụm từ “Thanh toán bằng chuyển khoản giữa ngân hàng bên mua và ngân hàng bên bán hoặc thanh toán bù trừ công nợ”. 5. Khoản 7 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 13 Luật Thuế GTGT) Về khoản 1, khoản 2 Điều 13: Có ý kiến đề nghị không điều chỉnh tăng từ 200 triệu đồng lên 500 triệu đồng vì các lý do sau: Chưa có văn bản nào của cơ quan quản lý Nhà nước công bố đồng tiền Việt Nam đã mất giá (mức 200 triệu đồng năm 2008 bằng 500 triệu đồng năm 2013). Cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp về vốn kinh doanh, giảm chi phí tài chính, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Khi các doanh nghiệp đã hoàn thuế lần đầu, từ lần sau thực hiện cơ chế “hoàn trước kiểm tra sau” cũng không gây khó khăn nhiều cho các doanh nghiệp. Không nên gây khó khăn cho doanh nghiệp bằng việc tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cơ quan quản lý thuế. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ KHÁC -Có ý kiến cho rằng theo chiến lược cải cách thuế giai đoạn 2011-2020, thì việc cải cách Thuế giá trị gia tăng cần đạt mục tiêu “giảm bớt nhóm hàng hóa chịu thuế suất 5%, tiến tới chỉ còn một mức thuế suất”, nhưng dự thảo Luật vẫn quy định hai mức thuế suất (5% và 10%) và chưa thu hẹp nhóm thuế suất 5%; tiêu chí của từng nhóm nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% và 10% chưa rõ ràng. Đề nghị quy định cụ thể để các doanh nghiệp không gặp khó khăn khi thực hiện. - Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật quy định sửa đổi, bổ sung 7 Điều mà có tới 6 nội dung giao cho Chính phủ quy định. Đề nghị nghiên cứu, hạn chế những nội dung giao cho Chính phủ quy định để Luật sớm đi vào cuộc sống khi có hiệu lực./. Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà NộiLượt xem: 466
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.