Tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã khắc phục những bất cập của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, vượt qua khó khăn, thách thức trong bối cảnh kinh tế suy thoái của thế giới nói chung và nước ta nói riêng.

         Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013 của Quốc hội và Chương trình hoạt động năm 2013 của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội. Ngày 07/5/2013, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp chuẩn bị cho kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIII.

Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp các ý kiến đóng góp như sau:

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:

Đa số ý kiến tán thành việc ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp để khắc phục những bất cập của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, vượt qua khó khăn, thách thức trong bối cảnh kinh tế suy thoái của thế giới nói chung và nước ta nói riêng.

Có ý kiến cho rằng, dự thảo Luật gồm 2 Điều sửa đổi, bổ sung 12 Điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp trong đó tới 6 khoản giao cho Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành. Đề nghị Ban soạn thảo cần hạn chế tối đa các quy định giao cho Chính phủ hướng dẫn, đặc biệt là những nội dung áp dụng trực tiếp đối với các doanh nghiệp.

II. VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ:

1. Khoản 2 Điều 1(sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNDN)

Về khoản 2 Điều 3 Luật Thuế TNDN:

- Có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung: “Khoản tiền đặt cọc, ứng trước của khách hàng để thực hiện hợp đồng nhưng sau đó, khách hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng” vào khoản 2 như sau: “2. Thu nhập khác bao gồm...khoản tiền đặt cọc, ứng trước của khách hàng để thực hiện hợp đồng nhưng sau đó, khách hàng đơn phương chấm dứt hợp đồng; thu khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được;...”

- Có ý kiến đề nghị viết lại khoản 2 như sau: “2.Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng quyền góp vốn (không áp dụng đối với công ty chuyên đầu tư tài chính); thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, chuyển nhượng dự án đầu tư, chuyển nhượng quyền tham gia dự án đầu tư (không áp dụng đối với công ty chuyên kinh doanh bất động sản)...

2. Khoản 3 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 4 và bổ sung khoản 8, khoản 9, khoản 10 Điều 4 Luật Thuế TNDN)

Về khoản 4 Luật Thuế TNDN:

 Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc cách sử dụng thuật ngữ “người tàn tật”, nên thay bằng thuật ngữ “người khuyết tật” để thống nhất với quy định của Luật Người khuyết tật năm 2010.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo cân nhắc bỏ nội dung “...không bao gồm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, kinh doanh bất động sản” vì trong bối cảnh kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính và bất động sản cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Đề nghị nếu các doanh nghiệp này đảm bảo được các điều kiện về số lao động bình quân trong năm và tỉ lệ phần trăm số lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện, người nhiễm HIV theo quy định thì cũng được miễn thuế thu nhập như các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.

3. Khoản 4 Điều 1 (sửa đổi khoản 3 Điều 7Luật Thuế TNDN)

Về khoản 3 Điều 7 Luật Thuế TNDN:

Có ý kiến đề nghị bỏ toàn bộ khoản này vì với Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, đối tượng chịu thuế là doanh nghiệp, không tính thuế theo từng lần kinh doanh và từng mặt hàng kinh doanh. Các doanh nghiệp thường kinh doanh trong nhiều ngành nghề để lấy lãi của hoạt động kinh doanh này này bù cho lỗ của hoạt động kinh doanh khác và trong thực tế thị trường bất động sản lên xuống bất thường vì vậy không nhất thiết quy định trong dự thảo Luật.

4. Khoản 5 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung Điều 9 Luật Thuế TNDN)

-Về điểm b khoản 1 Điều 9 Luật Thuế TNDN: Có ý kiến nhất trí với quy định bổ sung điều kiện phải thanh toán không dùng tiền mặt đối với hoá đơn mua hàng hóa dịch vụ từng lần. Đề nghị quy định bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng như quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng; hạ mức sàn phải thanh toán qua ngân hàng từ 20 triệu đồng hiện nay xuống 10 triệu đồng vì thanh toán qua ngân hàng là biện pháp có hiệu quả nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận, khai man, trốn thuế; Mức sàn 20 triệu đồng quy định trong Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 đã đi vào cuộc sống và phát huy tác dụng tốt nhưng tác động chưa cao vì nó chỉ liên quan đến việc được khấu trừ thuế giá trị gia tăng. Trong khi đó, nếu không được khấu trừ, thuế giá trị gia tăng trong hoá đơn mua vào vẫn được tính vào chi phí loại trừ khi xác định thu nhập chịu thuế. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng không khấu trừ thuế giá trị gia tăng để mua hoá đơn làm tăng chi phí, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, do đó cần giảm mức sàn thanh toán qua ngân hàng xuống mức thấp hơn để tạo thói quen thanh toán không dùng tiền mặt, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định của Luật Phòng chống tham nhũng, mặt khác, hệ thống thanh toán của các Ngân hàng thương mại hiện nay, về cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu thanh toán nhanh của các doanh nghiệp.

Có ý kiến cho rằng hiện nay chưa có luật nào quy định việc bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt kể cả Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Hình sự...do đó quy định "trừ các trường hợp không bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của pháp luật" là chưa chính xác. Đề nghị quy định thanh toán không dùng tiền mặt ngay trong Luật này.

- Về khoản 2 Điều 9 Luật Thuế TNDN :  Có ý kiến đề nghị giữ nguyên quy định tại điểm e : “e) Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá vượt định mức tiêu hao do doanh nghiệp xây dựng, thông báo cho cơ quan thuế và giá thực tế xuất kho". Vì chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu...chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm, mặt khác gian lận về chi phí nguyên liệu, vật liệu, phí lưu thông ...để giảm thu nhập chịu thuế là phổ biến ở các doanh nghiệp sản xuất hiện nay, do đó Nhà nước cần  kiểm soát chặt chẽ các khoản chi phí này.

- Về điểm g khoản 2 Điều 9 Luật Thuế TNDN (điểm e mới) : Có ý kiến đề nghị sửa điểm e thành “Phần chi trả lãi tiền vay vốn sản xuất, kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế không vượt quá lãi suất cho vay cao nhất của Ngân hàng thương mại trên cùng địa bàn tại thời điểm nhận tiền vay” vì hiện nay nhiều trường hợp 150% lãi suất cơ bản vẫn thấp hơn lãi suất cho vay của Ngân hàng thương mại, ngoài ra, quy định như vậy sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp huy động vốn từ các đối tác khác, không phải là các tổ chức tín dụng, để tháo gỡ khó khăn khi không tiếp cận được nguồn vốn của Ngân hàng.

- Điểm k khoản 2 Điều 9 Luật Thuế TNDN: Có ý kiến cho rằng với doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, theo hướng dẫn tại Nghị định số 25/2010/NĐ-CP ngày 19/3/2010 của Chính phủ về chuyển đổi công ty Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, công ty được dự kiến nguồn bổ sung vốn điều lệ trong 3 năm tiếp theo để đưa vào xác định vốn điều lệ, do đó vốn điều lệ có thể cao hơn vốn chủ sở hữu, nếu vẫn giữ quy định như  Luật hiện hành là chưa hợp lý.

- Điểm m khoản 2 Điều 9 Luật Thuế TNDN: Đa số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu khống chế mức chi cho quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại... là 15% tính trên tổng doanh thu để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc xây dựng thương hiệu trên thị trường;

 Có ý kiến đề nghị bỏ quy định “chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị” ra khỏi mức khống chế vì đó không phải là chi phí phục vụ quảng cáo, tiếp thị;

 Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định mức khống chế chi phí quảng cáo, tiếp thị bằng % (phần trăm) doanh thu, có phân biệt tỷ lệ theo từng ngành để thuận tiện cho việc tính toán và kiểm tra;

 Có ý kiến đề nghị giảm trừ chi phí quảng cáo cho các sản phẩm ngành dịch vụ, sản phẩm mới và cho doanh nghiệp mới tham gia thị trường vì những trường hợp này  chi phí quảng cáo thường lớn hơn.

- Về điểm o khoản 2 Điều 9 Luật Thuế TNDN:  Có ý kiến đề nghị chưa áp dụng điểm o vì các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay còn rất ít vốn, quy định trên sẽ hạn chế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

5. Khoản 6 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung điều 10 Luật Thuế TNDN)

- Đa số ý kiến đề nghị mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% để đảm bảo sự hỗ trợ bình đẳng cho tất cả các doanh nghiệp.

- Về khoản 2 Điều 10 Luật Thuế TNDN : Có ý kiến cho rằng quy định “Doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng áp dụng thuế suất 20%” là không hợp lý vì có thể gây ra tình trạng lách luật, thuê lao động thời vụ. Đề nghị bỏ quy định ưu đãi này và áp dụng thuế suất 23% cho tất cả loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ; Hoặc nếu vẫn giữ mức ưu đãi thuế suất 20% đề nghị quy định như sau “Doanh nghiệp sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian hoặc doanh nghiệp có tổng doanh thu dưới 20 tỷ áp dụng thuế suất 20%” vì doanh nghiệp có 200 lao động mà mức doanh thu 20 tỷ là thấp so với thực tế; Có ý kiến cần cân nhắc quy định này vì các doanh nghiệp có quy mô lớn chịu áp dụng mức thuế cao hơn dẫn đến tình trạng chia, tách doanh nghiệp để hưởng ưu đãi về thuế, mặt khác để đảm bảo sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Nhà nước cũng cần hỗ trợ và khuyến khích phát triển doanh nghiệp có quy mô lớn.

6. Khoản 7 Điều 1 (sửa đổi, bổ sung điều 13 Luật Thuế TNDN)

- Về điểm a khoản 2 Điều 13 Luật Thuế TNDN: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “(sau đây gọi chung là lĩnh vực xã hội hóa)” vì cụm từ này không được tiếp tục sử dụng ở điều khoản nào khác trong Dự thảo Luật.

- Về khoản 6 Điều 13 Luật Thuế TNDN: Có ý kiến đề nghị sửa thành “6. Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại Điều này được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế; ...” vì không phải cứ có doanh thu là đã có thu nhập chịu thuế.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm quy định ưu đãi thuế cho các khu kinh tế, khu công nghiệp, ngành nông nghiệp.

7. Về các vấn đề khác:

- Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định trong Dự thảo Luật về nguyên tắc xác định giá tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ trong nội bộ tập đoàn hoặc nhóm công ty có quan hệ “mẹ - con” nhằm ngăn chặn tình trạng “chuyển giá” trốn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu có quy định về ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khu chế xuất và cụm công nghiệp để phù hợp với quy định của Chính phủ về khuyến khích đầu tư tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.

- Có ý kiến đề nghị quy định và hướng dẫn xử lý đối với một số khoản chi phí hiện đã phát sinh tại các doanh nghiệp nhưng chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Chi phí thiệt hại do hàng vỡ, hàng hỏng, hàng quá hạn sử dụng; chi phí quản lý của các Công ty con nộp cho Công ty mẹ; của các nhà thầu phụ nộp cho nhà thầu chính; chi phí sử dụng thương hiệu; chi phí nộp cho chủ doanh nghiệp trong trường hợp nhận khoán kinh doanh.

Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội./.

Lượt xem: 569

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.