Tổng hợp ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 của Quốc hội và Chương trình hoạt động năm 2012 của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực chuẩn bị cho kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII.

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2012 của Quốc hội và Chương trình hoạt động năm 2012 của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực chuẩn bị cho kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIII.

Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp ý kiến đóng góp như sau:

Đa số ý kiến tán thành với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực nhằm đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với hoạt động điện lực. Hoàn thiện pháp luật về điện lực sẽ phát huy quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh của các đơn vị điện lực, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội của các hoạt động điện lực, kết hợp hài hòa giữa quyền và lợi ích hợp pháp của các đơn vị điện lực, khách hàng sử dụng điện và Nhà nước. Việc sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực góp phần đảm bảo sự thống nhất và phù hợp giữa Luật Điện lực với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Khoản 1, Điều 1 (bổ sung khoản 17, khoản 18, Điều 3 của Luật Điện lực):

Khoản 18: Có ý kiến đề nghị bỏ từ “cuối cùng” tại cuối khoản cho phù hợp với khoản 6, Điều 3 Luật Điện lực quy định “khách hàng sử dụng điện là tổ chức, cá nhân mua điện để sử dụng, không bán lại cho tổ chức, cá nhân khác”.

2. Khoản 2, Điều 1 (Bổ sung khoản 1a sau khoản 1, sửa đổi khoản 3, khoản 4, Điều 4 của Luật Điện lực):

- Khoản 1a: Có ý kiến cho rằng sản lượng điện tiêu thụ cho sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số sản lượng điện  hàng năm, nhất là trong công tác tưới tiêu, phòng chống úng, hạn. Do đó Dự thảo Luật không chỉ quy định việc ưu tiên phát triển điện phục vụ theo vùng mà cần quy định việc ưu tiên phát triển điện phục vụ theo ngành, lĩnh vực như “phục vụ công tác tưới tiêu, phòng chống úng, hạn”. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu và bổ sung quy định cho phù hợp.

- Khoản 3, sửa đổi: Có ý kiến cho rằng cần phải quy định cụ thể về việc áp dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động điện lực như : “Nghiên cứu trên cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ xây dựng quy hoạch phát triển nguồn năng lượng quốc gia nhằm đảm bảo cơ cấu năng lượng hợp lý, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng; nghiên cứu làm chủ công nghệ chế tạo thiết bị toàn bộ các nhà máy nhiệt điện và thủy điện công suất trung bình và lớn, thiết bị các hệ thống truyền tải và phân phối điện; nghiên cứu các giải pháp khoa học và công nghệ nhằm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả trong các khâu sản xuất, truyền tải và tiêu thụ năng lượng, từng bước tiến tới làm chủ công nghệ, chế tạo thiết bị tiết kiệm năng lượng, xây dựng lưới điện thông minh”. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung các quy định vào Dự thảo Luật cho phù hợp.

- Khoản 4, sửa đổi: Có ý kiến đề nghị Dự thảo Luật bổ sung quy định cụ thể về nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo bao gồm: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng sóng biển, năng lượng sinh khối, địa nhiệt và điện sinh học.

 3. Khoản 3, Điều 1 (sửa đổi khoản 1, khoản 3, Điều 8 của Luật Điện lực):

- Khoản 1, sửa đổi:

+ Có ý kiến đề nghị thay cụm từ tại cuối  Khoản “và có tính đến quy hoạch khác có liên quan” bằng cụm từ “phù hợp yêu cầu sử dụng điện theo quy hoạch của các ngành kinh tế quốc dân”;

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về quy hoạch phát triển điện lực phải phù hợp vớiquy hoạch chung xây dựng và quy hoạch phát triển đô thị.

- Khoản 3, sửa đổi: Có ý kiến cho rằng chu kỳ quy hoạch phát triển điện lực là 10 năm và định hướng 10 năm tiếp theo là quá dài. Đề nghị Dự thảo Luật quy định rút ngắn chu kỳ quy hoạch phát triển điện lực xuống còn 5 năm và trong thời gian đó có thể cho phép điều chỉnh, bổ sung quy hoạch. 

4. Khoản 5, Điều 1(sửa đổi tên, Khoản 1, Khoản 2, Điều 9 của Luật Điện lực):

Khoản 1, sửa đổi: Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về trách nhiệm của UBND cấp tỉnh phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện quy hoạch để đảm bảo sự kết nối đồng bộ với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch liên quan khác của địa phương.

5. Khoản 6, Điều 1(sửa đổi Khoản 1, Điều 11 của Luật Điện lực):

Khoản 1, sửa đổi: Có ý kiến cho rằng quy định như Dự thảo luật là chưa chặt chẽ đối với quản lý hoạt động đầu tư phát triển điện lực. Đề nghị Ban soan thảo nghiên cứu quy định trong Dự thảo luật theo hướng nếu các dự án đầu tư chưa có trong quy hoạch phát triển điện thì phải tiến hành bổ sung quy hoạch rồi mới được thực hiện. Qui định như vậy mới đảm bảo sự tuân thủ pháp luật đồng thời vẫn thể hiện rõ vai trò của cơ quan lập quy hoạch, tránh phát sinh những dự án đầu tư phát triển điện không phù hợp với quy hoạch, phát sinh cơ chế “xin-cho” và phát sinh lợi ích nhóm.

6.  Khoản 10, Điều 1 (sửa đổi Điều 25 của Luật Điện lực):

Có ý kiến đề nghị Dự thảo luật cần qui định rõ các tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm độc lập hoàn toàn với bên bán điện, không nằm trong bộ máy của bên bán điện để đảm bảo quyền bình đẳng của người mua và người bán điện khi có tranh chấp xảy ra.

7. Khoản 12 (bổ sung Khoản 1a sau Khoản 1 và sửa đổi Khoản 3, Khoản 4 Điều 29 của Luật Điện lực):

Khoản 1a: Có ý kiến cho rằng về nguyên tắc có hai công cụ để điều tiết giá cả, đó là điều tiết thị trường và điều tiết của Nhà nước. Sự điều tiết hoàn toàn theo cơ chế thị trường chỉ có tác dụng trong hoàn cảnh thị trường có tính cạnh tranh cao, thực tế ngành điện ở nước ta hiện nay vẫn mang tính độc quyền vì vậy chức năng điều tiết của Nhà nước là hết sức quan trọng. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung vào Dự thảo luật quy định về sự kiểm soát của Nhà nước, đặc biệt là trong lĩnh vực giá.

8. Khoản 14, Điều 1 (sửa đổi Điều 31 của Luật Điện lực):

Có ý kiến cho rằng quy định như Dự thảo Luật đã tạo tính linh hoạt hơn cho các đơn vị điện lực trong việc điều chỉnh giá bán lẻ điện, đảm bảo sự điều chỉnh kịp thời và phù hợp với tình hình thực tế khi các chi phí đầu vào cho việc sản xuất điện có sự thay đổi, tuy nhiên, việc trao toàn quyền điều chỉnh giá bán lẻ cho các đơn vị điện lực sẽ tạo ra cơ chế có phần nới lỏng và khó kiểm soát hơn đối với giá bán lẻ điện cho người dân. Thực tế hiện nay việc điều chỉnh giá điện của ngành điện vẫn mang tính độc quyền, chưa đảm bảo minh bạch. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về căn cứ, điều kiện và thời gian điều chỉnh giá bán lẻ điện giữa hai lần liền kề để làm căn cứ cho Thủ tướng Chính phủ quy định cơ chế quản lý, điều chỉnh giá bán lẻ điện tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát việc điều chỉnh giá bán lẻ điện.

9. Khoản 17, Điều 1 (sửa đổi Điều 62 của Luật Điện lực):

 Có ý kiến cho rằng quy định như Dự thảo luật thì đối với các địa phương thuộc khu vực chưa nối điện quốc gia gặp khó khăn về ngân sách sẽ không thể thực hiện được việc xây dựng lưới điện và người dân khó có khả năng chi trả tiền điện, do đó đề nghị Ban soạn thảo quy định theo hướng  không nhất thiết phải đảm bảo lợi nhuận cho đơn vị điện lực vì đối với những khu vực này Nhà nước đang thực hiện chính sách hỗ trợ giá điện đối với các hộ nghèo, vùng sâu, vùng xa.

10. Khoản 18, Điều 1 (sửa đổi các Điểm d, g; bổ sung Điểm m, n Khoản 1, Điều 66 của Luật Điện lực):

Điểm n: Có ý kiến cho rằng Dự thảo luật quy định cơ quan điều tiết điện lực thực hiện kiểm tra và xử lý vi phạm trong lĩnh vực điện lực là không phù hợp, đề nghị Dự thảo luật quy định theo hướng phân cấp cho UBND các cấp và Sở Công thương cấp tỉnh thực hiện trách nhiệm quản lý, xử lý vi phạm trong hoạt động điện lực theo cấp điện áp từ dưới 35kv, Cơ quan điều tiết điện lực kiểm tra, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm hoạt động điện lực từ cấp điện áp 35kv trở lên.

11. Một số đề nghị tiếp tục sửa đổi, bổ sung một số điều trong Luật Điện lực hiện hành:

- Khoản 1, Điều 29: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “bù đắp đủ chi phí” vào trước cụm từ “...có lợi nhuận hợp lý” và viết lại như sau: “Tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển điện lực bù đắp đủ chi phí, có lợi nhuận hợp lý,...” 

- Khoản 3, Điều 24: Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác” bằng quy định “Bộ Công thương quy định cụ thể khoảng cách tối đa đối với từng loại công tơ đến phạm vi quản lý của bên mua điện”.

- Điểm c, Khoản 2 Điều 41: Có ý kiến cho rằng việc quy định “có thỏa thuận khác” trong Luật như vậy là không minh bạch. Đề nghị thay thế cụm từ “thỏa thuận khác” bằng nội dung “ trường hợp khách hàng sử dụng điện đầu tư lưới điện phục vụ sản xuất kinh doanh của mình bên bán điện có trách nhiệm lắp đặt công tơ và thiết bị phụ trợ cho việc đo đếm điện để được thanh toán tiền điện theo mức giá tại cấp điện áp ở điểm đấu nối”;Hoặc bổ sung quy định “Chính phủ hướng dẫn chi tiết nội dung thỏa thuận khác”; có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “thỏa thuận khác” nhằm tránh trường hợp bên bán điện sẽ áp đặt điều kiện không có lợi cho bên mua.

- Điều 38: Có ý kiến đề nghị sửa đổi theo hướng Bộ Công thương cấp giấy phép hoạt động điện lực theo cấp điện áp trên 35KV, dưới cấp điện áp 35KV giao UBND cấp tỉnh cấp giấy phép.

Lượt xem: 609

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.