Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật An toàn thông tin mạng
Luật An toàn thông tin mạng được ban hành sẽ là công cụ hữu hiệu điều chỉnh toàn diện hoạt động an toàn thông tin trên mạng bảo đảm một môi trường mạng an toàn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phù hợp với thông lệ quốc tế về bảo đảm an toàn thông tin, tạo môi trường bình đẳng cho các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội năm 2015; để chuẩn bị cho kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật An toàn thông tin mạng. Đa số ý kiến nhất trí với dự thảo Luật đã được tiếp thu, chỉnh lý và cho rằng Luật An toàn thông tin mạng được ban hành sẽ là công cụ hữu hiệu điều chỉnh toàn diện hoạt động an toàn thông tin trên mạng bảo đảm một môi trường mạng an toàn phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; phù hợp với thông lệ quốc tế về bảo đảm an toàn thông tin, tạo môi trường bình đẳng cho các tổ chức, doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam. Khoản 1, Điều 3 đã quy định “An toàn thông tin mạng” được viết gọn là “An toàn thông tin ”, tuy nhiên một số điều, khoản trong dự thảo Luật vẫn ghi “An toàn thông tin trên mạng” (ví dụ: Điều 15. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong đảm bảo an toàn thông tin trên mạng). Đề nghị Ban soạn thảo rà soát, điều chỉnh để đảm bảo thống nhất trong dự thảo Luật, hoặc thống nhất ghi “An toàn thông tin mạng” như tên Luật, không viết tắt “An toàn thông tin ”, để tránh nhầm lẫn trong quá trình áp dụng Luật. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1), có ý kiến cho rằng trong phạm vi điều chỉnh có nội dung về “quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động an toàn thông tin” nhưng trong dự thảo chưa có quy định về nội dung này. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung và chuyển nội dung “quản lý nhà nước về an toàn thông tin” xuống cuối nội dung Điều 1 để đảm bảo tính logic và kết cấu điều luật. Bên cạnh đó, đề nghị bổ sung chế tài xử lý các vi phạm pháp luật xảy ra trong hoạt động an toàn thông tin mạng vào phạm vi điều chỉnh của Luật. Ngoài ra, có ý kiến cho rằng, nội dung quy định tại Điều 2 cũng thuộc phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật, đề nghị gộp Điều 1 và Điều 2 thành một. Về nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin (Điều 4), có ý kiến cho rằng nội dung tại khoản 2 là hành vi bị nghiêm cấm, có thể chuyển khoản này vào “Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm”. Khoản 3 không phải là nguyên tắc bảo đảm an toàn thông tin, đề nghị chuyển khoản này vào “Điều 15. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thông tin trên mạng”. Về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 8), Ban soạn thảo cần nghiên cứu, rà soát, đối chiếu để bổ sung, điều chỉnh thống nhất về các hành vi bị cấm trong dự thảo Luật; giữa các hành vi bị nghiêm cấm của dự thảo Luật này với các hành vi của tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông, mạng Internet trong dự thảo Bộ Luật Hình sự đang được sửa đổi để khi các dự án Luật này được thông qua bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Đề nghị bổ sung một khoản với nội dung “Lợi dụng mạng để xâm phạm an ninh Quốc gia, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ bí mật của Nhà nước” để phù hợp với điểm a khoản 5 Điều 60. Về thu thập và sử dụng thông tin cá nhân (Điều 17), Điểm a, khoản 1: Có ý kiến đề nghị sửa thành “Phải được sự đồng ý của chủ sở hữu thông tin cá nhân về phạm vi, mục đích sử dụng thông tin trước khi tiến hành thu thập thông tin”. Phần Chương V. Kinh doanh trong lĩnh vực an toàn thông tin, đề nghị Ban soạn thảo rà soát lại các quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc áp dụng các quy định tại Chương này. Đặc biệt, Chương này quy định thêm 2 loại giấy phép: Giấy phép kinh doanh sản phẩm và dịch vụ an toàn thông tin, Giấy chứng nhận cung cấp dịch vụ an toàn thông tin. Đề nghị Ban soạn thảo rà soát lại để tránh có nhiều loại giấy phép “con” gây khó khăn cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này, mặc dù đây là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Phần Chương VI. Phát triển nguồn nhân lực an toàn thông tin, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định về điều kiện, tiêu chuẩn và chế độ quản lý đối với đối tượng làm chuyên trách về an toàn thông tin. Xem xét, bổ sung thêm điều quy định về chế độ đãi ngộ nhằm thu hút nhân lực an toàn thông tin làm việc trong cơ quan Nhà nước. Riêng về đào tạo, dạy nghề an toàn thông tin (Điều 57), hiện nay việc đào tạo nhân lực về an toàn thông tin không chỉ có ở trong cơ sở giáo dục đại học mà còn có ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Vì vậy, nếu chỉ quy định Nhà nước hỗ trợ kinh phí đào tạo cho cơ sở giáo dục đại học là chưa đảm bảo cho việc khuyến khích việc đào tạo nhân lực về an toàn thông tin. Đề nghị nghiên cứu mở rộng đối tượng được hỗ trợ và quy định chi tiết trong Luật. Kết quả tổng hợp còn cho thấy, dự thảo Luật có quá nhiều nội dung giao cho Chính phủ ban hành văn bản quy định chi tiết, như vậy sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu lực thi hành của Luật nếu Chính phủ, các Bộ, ngành chậm ban hành Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Toàn văn báo cáo tổng hợp của Đoàn ĐBQH TP Hà Nội HOÀI THƯƠNGLượt xem: 102
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.