Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động

Về quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động (Điều 6), Khoản 1, Điểm a: Một số ý kiến đề nghị sửa thành “Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động; được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống; được đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; được chăm sóc sức khỏe, được hưởng các chế độ khi bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp”. Điểm b: Một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể nội dung “khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” là thế nào để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng Luật.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội; Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động và tổng hp các ý kiến góp ý.

Đa số ý kiến tán thành với nội dung dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động. Dự thảo Luật đã thể chế hóa mục tiêu, quan điểm, định hướng xây dựng đất nước của Đảng, Nhà nước về thực hiện quyền con người, phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và những quy định quốc tế về quyền con người.

Vtên gọi của Luật: Có ý kiến đề nghị sửa tên thành Luật An toàn lao động, vệ sinh lao động để vừa đảm bảo đủ ý và vừa kế thừa được quy định tại chương IX Bộ Luật lao động.

Một số ý kiến cũng đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu tách quyền và trách nhiệm của các đơn vị, tổ chức được quy định tại Điều 8, 9, 10, 11 cho cụ thể, rành mạch; có ý kiến đề nghị tại các Điều 73, 74, 76 cần quy định cụ thể trong Luật về quy mô của doanh nghiệp có bao nhiêu người lao động thì phải thành lập bộ phận an toàn, vệ sinh lao động; bộ phận y tế và Hội đồng an toàn, vệ sinh lao động cơ sở; có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung các điều, khoản quy định về điều kiện bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế, đồng thời tăng mức phạt đối với các doanh nghiệp, người sử dụng lao động có hành vi che dấu, gian dối các vụ tai nạn lao động…

Về nguyên tắc bảo đảm an toàn, yệ sinh lao động (Điều 5), Khoản 3: Một số ý kiến đề nghị thay cụm ttham vấn” bằng cụm từ cần ly” và sửa thành “Cần ly ý kiến tổ chức đại diện của người lao động... ” để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng Luật. Đề nghị Ban soạn thảo bổ sung nguyên tắc “Đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân tham gia trong quan hệ lao động. Đảm bảo bình đẳng trong việc thực hiện các quy định về an toàn, vệ sinh lao động”.

Vquyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động (Điều 6), Khoản 1, Điểm a: Một số ý kiến đề nghị sửa thành “Yêu cầu người sử dụng lao động bảo đảm điều kiện làm việc an toàn, vệ sinh lao động; được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống; được đào tạo, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; được chăm sóc sức khỏe, được hưởng các chế độ khi bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp”. Điểm b: Một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể nội dung “khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” là thế nào để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng Luật.

Về khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động (Điều 21), Khoản 3: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định “Người sử dụng lao động phải tổ chức giám định y khoa để xác định tình trạng sức khỏe người lao động khi cần thiết”. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định về “Khảm tuyển dụng” như sau “Người lao động trước khi vào làm việc phải được khám sức khỏe, người sử dụng lao động không được nhận người chưa được khám sức khỏe trước khi tuyển dụng vào làm việc”, vì khám sức khỏe khi tuyển dụng để sàng lọc, sắp xếp công việc phù hợp với người lao động và để phòng tránh được tai nạn lao động do sức khỏe yếu. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định “Sau khi khám sức khỏe cho người lao động, người sử dụng lao động phải cỏ kế hoạch theo dõi, điều trị cho người lao động có sức khỏe yếu, có phương án sắp xếp, b trí lại vị trí làm việc cho phù hợp với sức khỏe người lao động”.

Về điều kiện hưởng chế độ tai nạn lao động (Điều 46), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung trường hợp người lao động bị tai nạn lao động bên ngoài lãnh thổ Việt Nam và quy định cụ thể hồ sơ đối với trường hp này…

Toàn văn báo cáo tổng hợp ý kiến xem tại đây.

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 708

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.