Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi)

Theo đó, đa số ý kiến nhất trí sự cần thiết ban hành Luật Báo chí (sửa đổi). Dự thảo Luật đã được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động báo chí và công tác quản lý nhà nước về báo chí, tổng kết thi hành Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999; bổ sung những vấn đề mới do thực tiễn phát triển báo chí đặt ra chưa được điều chỉnh trong Luật Báo chí hiện hành; khắc phục những điểm chưa đầy đủ, những vấn đề phát sinh từ hoạt động báo chí trên thực tế.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội năm 2016. Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Báo chí (sửa đổi) và tổng hợp các ý kiến góp ý.

Theo đó, đa số ý kiến nhất trí sự cần thiết ban hành Luật Báo chí (sửa đổi). Dự thảo Luật đã được xây dựng trên cơ sở tổng kết thực tiễn hoạt động báo chí và công tác quản lý nhà nước về báo chí, tổng kết thi hành Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999; bổ sung những vấn đề mới do thực tiễn phát triển báo chí đặt ra chưa được điều chỉnh trong Luật Báo chí hiện hành; khắc phục những điểm chưa đầy đủ, những vấn đề phát sinh từ hoạt động báo chí trên thực tế.

Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1), có ý kiến đề nghị sửa quy định này thành “Luật này quy định về việc thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân... ” để phù hợp với quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013.

VHội nhà báo Việt Nam (Điều 8), có ý kiến cho rằng quy định như dự thảo Luật là quá chung chung, không có cơ chế để thực hiện. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của Hội nhà báo Việt Nam để phát huy hơn nữa vai trò của Hội này.

Về những hành vi bị cấm trong hoạt động báo chí (Điều 9), có ý kiến cho rằng phần lớn các quy định tại Điều này là quy định cấm đối với nhà báo, các quy định cấm đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan chưa nhiều. Khoản 8: Có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi “thông tin gầy hiểu lầm” vì trong thời gian qua có một số báo đăng tải, giật tít chưa phù hp dẫn đến gây hiểu lầm cho người đọc, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, quyền, lợi ích hp pháp của công dân, tổ chức. Khoản 12: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung nội dung tổ chức, cá nhân cản trở các hoạt động báo chí hợp pháp thì tùy mức độ vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính, hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về trách nhiệm của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân (Điều 12), có ý kiến đề nghị sửa tên Điều này thành “Nghĩa vụ của cơ quan báo chí đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân” vì từ “Trách nhiệm” là chỉ việc xử lý khi vi phạm nghĩa vụ.

Về trách nhiệm của Nhà nước đối vi quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân (Điều 13), Khoản 2: Có ý kiến đề nghị chuyển đoạn “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí,...” thành khoản 4 Điều 11 dự thảo Luật để đảm bảo tính logic và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 11 về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân.

Về đối tượng được thành lập cơ quan báo chí (Điều 14), Khoản 1: Có ý kiến cho rằng căn cứ quan điểm, định hướng, phương án của Đ án Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua thì chỉ các tổ chức xã hội-nghề nghiệp Trung ương được xuất bản tạp chí còn các tổ chức xã hội-nghề nghiệp cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương không có cơ quan báo chí. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu thống nhất quy định này.

Về quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí (Điều 15), Điểm d khoản 2: Có ý kiến cho rằng theo Luật Thanh tra thì việc thanh tra là của các cơ quan có chức năng thanh tra, cơ quan chủ quản chỉ có chức năng kiểm tra các cơ quan, đơn vị trực thuộc. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu lại quy định này và sửa thành “Kiếm tra hoạt động của cơ quan báo chí và kỷ luật theo quy định của pháp luật”.

Về quyền và nghĩa vụ của nhà báo (Điều 25), Điểm c khoản 3: Có ý kiến đề nghị sửa thành “Không được lạm dụng danh nghĩa nhà báo nhằm thu về lợi ích cho cá nhân và làm việc vi phạm pháp luật” nhằm đảm bảo ngôn ngữ pháp lý có tính định lượng về mục đích của hành vi lạm dụng.

Về điều kiện, tiêu chuẩn được xét cấp thẻ nhà báo (Điều 27), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định về đối tượng được cấp thẻ nhà báo là những người trực tiếp làm công tác đưa thông tin, sáng tạo tác phẩm được đăng tải trên trang thông tin điện tử chính thống của UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Là những người tốt nghiệp chuyên ngành báo chí, được giữ lại cơ sở đào tạo báo chí để làm giảng viên, vẫn thường xuyên cộng tác với các cơ quan báo chí và có tác phẩm báo chí đều đặn. Điểm c khoản 1: Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định xét cấp thẻ nhà báo trong trường hợp phóng viên công tác tại cơ quan báo chí đủ 03 năm nhưng chưa được cấp thẻ mà chuyển sang cơ quan báo chí khác, được ký hp đồng dài hạn hoặc trúng tuyển vào viên chức trong biên chế Nhà nước của cơ quan báo chí khác. Điểm a khoản 2: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định chi tiết quy trình đánh giá chất lượng tin, bài của cộng tác viên cũng như quy trình đề xuất của cơ quan báo chí để đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng cấp thẻ tràn lan.

Về cấp, đổi thẻ nhà báo (Điều 28), Khoản 2: Có ý kiến cho rằng kỳ hạn cấp thẻ nhà báo là 10 năm, sau đó nhà báo đủ các điều kiện, tiêu chuẩn kể cả tiêu chuẩn sức khỏe mới được cấp lại. Sau một thời gian hành nghề nếu nhà báo không đáp ứng các yêu cầu theo quy định thì không cấp lại và cần chấm dứt tình trạng không còn hoạt động báo chí nữa nhưng vẫn lợi dụng thẻ nhà báo để làm những hoạt động khác.

Về thông tin có tính chất báo chí trên mạng xã hội (Điều 37), Khoản 4: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể việc thiết lập mạng xã hội ngay trong dự thảo Luật, không nên quy định “Việc thiết lập mạng xã hội thực hiện theo quy định của Chính phủ ” vì các thông tin có tính chất báo chí trên mạng xã hội có ảnh hưởng rất lớn tới dư luận, thực tế đã có nhiều vụ khủng hoảng truyền thông xuất phát từ sự lan tỏa của các thông tin qua mạng xã hội.

Về cung cấp thông tin cho báo chí (Điều 39), Khoản 4: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung quy định “Cơ quan báo chí có quyền tham gia, phối hợp với các cơ quan chức năng bảo vệ người cung cp thông tin sau khi tên họ được tiết lộ theo quy định của pháp luật”. Khoản 5: Một số ý kiến cho rằng việc phát ngôn của các cơ quan hành chính nhà nước là nguồn cung cấp thông tin chính thống về các hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước cho báo chí. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể về việc phát ngôn và cung cấp cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước ngay trong dự thảo Luật cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay và đảm bảo Luật ban hành sẽ được thực hiện ngay, tránh tình trạng chờ văn bản hướng dẫn hay quy định chi tiết.

Về quyền tác giả trong lĩnh vực báo chí (Điều 46), có ý kiến cho rằng hiện nay, mặc dù đã có đầy đủ hệ thống pháp lý, quy định về sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả nhưng khả năng thực thi, bảo hộ quyền tác giả, đặc biệt là trong lĩnh vực báo chí còn rất hạn chế. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể vấn đề này trong Luật.

Về xử lý vi phạm trong lĩnh vực báo chí (Điều 60), có ý kiến cho rằng dự thảo Luật đã mở rộng quyền tự do báo chí, tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan báo chí và nhà báo thực hiện các hoạt động báo chí, cũng như đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân thì cũng cần quy định đầy đủ, cụ thể về xử lý vi phạm nhằm bảo đảm quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong hoạt động báo chí.

MINH TÚ

Lượt xem: 378

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.