Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi)

Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi), tổng hợp các ý kiến cho thấy việc sửa đổi luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Dự thảo Luật đã thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về thực hiện các quyền con người, quyền trẻ em, đồng thời quy định cụ thế trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền trẻ em.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi), tổng hợp các ý kiến cho thấy việc sửa đổi luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong giai đoạn hiện nay là cần thiết, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Dự thảo Luật đã thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về thực hiện các quyền con người, quyền trẻ em, bổ sung nhiều quyền trẻ em được quy định tại các điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia, đặc biệt là công ước Quốc tế về quyền trẻ em, đồng thời quy định cụ thế trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền trẻ em.

Về cụ thể hóa nguyên tắc đảm bảo thực hiện quyền trẻ em, có ý kiến cho rằng, khoản 5 Điều 6 của Dự thảo Luật quy định nguyên tắc “bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện các quyền trẻ em vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương” nhưng tại Chương VI- quy định trách nhiệm của các chủ thể trong việc thực hiện quyền trẻ em có một số quy định chưa phù hợp với nguyên tắc trên như: Khoản 2 Điều 80 quy định “Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội... xem xét, đánh giá… trong việc lồng ghép vấn đề trẻ em khi thẩm tra”, Khoản 2 Điều 83 quy định Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội “đề xuất việc lồng ghép vấn đề trẻ em khỉ xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành, địa phương”. Vậy “lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu” và “lồng ghép vấn đề trẻ em” có giống nhau không? Sao nguyên tắc là lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu mà quy định cụ thể lại là lồng ghép vấn đề trẻ em? Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định phù hợp.

Một số ý kiến cho rằng, dự thảo Luật quy định cụ thể 25 quyền (từ Điều 12 đến Điều 36) và 5 bổn phận cho trẻ em (từ Điều 37 đến Điều 41) là một bước tiến. Tuy nhiên, dự thảo Luật chưa quy định cụ thể quyền và bổn phận của trẻ em theo các nhóm tuổi (trẻ em có các độ tuổi như sau: trẻ sơ sinh, nhi đồng, thiếu niên (dưới 14 tuổi), từ 14 tuổi đến 16 tuổi, từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi) thì Luật sẽ khó đi vào cuộc sống, vì mỗi nhóm tuổi khác nhau về thể chất, tâm sinh lý, trí tuệ, tinh thần khác nhau nên sự quan tâm của gia đình và xã hội khác nhau. Một số quyền của trẻ em thực hiện cũng ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào lứa tuổi. Đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể hơn các quyền trẻ em để khi áp dụng Luật có tính khả thi.

Về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện quyền trẻ em (Chương VI), có ý kiến cho rằng, Chương VI của dự thảo Luật quy định bộ máy các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, gia đình và cá nhân cùng có trách nhiệm trong việc thực hiện quyền trẻ em điều đó thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đối với thế hệ tương lai. Tuy nhiên, để có tính khả thi khi thực hiện Luật, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể trách nhiệm của một cơ quan đại diện cho nhà nước chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức và cá nhân khác để bảo vệ kịp thời trẻ em bị xâm hại.

Về việc nâng độ tuổi trẻ em từ dưới 16 tuổi lên dưới 18 tuổi, có ý kiến cho rằng việc nâng độ tuổi trẻ em trước mắt sẽ dẫn đến nhiều khó khăn như: Có nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến trẻ em phải thay đổi; số lượng cán bộ trực tiếp làm công tác bảo vệ trẻ em sẽ phải tăng mà thực tế trong điều kiện phát triển và tình hình xã hội của nước ta như hiện nay là chưa thể thực hiện ngay được điều này, do đó công tác trẻ em sẽ gặp nhiều khó khăn và trở ngại, không đáp ứng được yêu cầu, chăm sóc, bảo vệ trẻ em. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu và quy định phù hợp để đảm bảo tính khả thi của Luật.

Về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 7), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung hành vi bắt cóc, buôn bán trẻ em vào dự thảo Luật, vì đây là những hành vi vô cùng nguy hiểm và trên thực tế đã có rất nhiều vụ việc xảy ra.

Về các nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt (Điều 10), có ý kiến đề nghị bổ sung “nhóm trẻ em mắc các căn bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo” vì nhóm trẻ này khó có điều kiện thực hiện được quyền sống, quyền học tập, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được bảo vệ và các bổn phận khác do luật quy định do đó, nhóm trẻ này cần được chăm sóc, bảo vệ và được hưởng chính sách hỗ trợ của nhà nước như các nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khác. Có ý kiến đề nghị thay tên nhóm đối tượng “Trẻ em chưa hoàn thành phổ cập giáo dục phải bỏ học kiếm sống” bằng “Trẻ em lao động kiếm sống” để đúng với tính chất đặc biệt của đối tượng trẻ em cần có những biện pháp riêng đặc biệt và phù hợp với yêu cầu phòng, chống bóc lột sức lao động của trẻ em hiện nay trên thế giới; Đối với “trẻ em chưa hoàn thành phổ cập giáo dục” thì nên tách thành một nhóm đối tượng riêng, vì đối tượng này không phải tất cả đều lang thang kiếm sống, mà còn do các nguyên nhân vì điều kiện, hoàn cảnh khác các em chưa hoàn thành phổ cập giáo dục. Có ý kiến đề nghị bổ sung nhóm đối tượng “trẻ em rối nhiễu tâm trí, tự kỷ Nhóm trẻ em này không thuộc nhóm đối tượng trẻ em khuyết tật, nhưng có những đặc điểm riêng, cần có biện pháp bảo vệ đặc biệt cả về giáo dục, tâm lý và điều trị càng sớm càng tốt.

Toàn văn báo cáo tổng hợp xem tại đây

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 613

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.