Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở
Đa số ý kiến cho rằng dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở có 5 Chương, 33 Điều là phù hợp; dự thảo được xây dựng công phu, đã pháp điển hóa và kế thừa nhiều nội dung cơ bản của Pháp lệnh Hòa giải ở cơ sở, đồng thời bổ sung thêm nhiều quy định mới; cấu trúc, bố cục dự thảo Luật hợp lý, chặt chẽ, nhiều điều luật đã được chi tiết hóa, dễ hiểu, có tính khả thi.
Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013 của Quốc hội; chương trình hoạt động năm 2013 của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội; theo yêu cầu tại công văn ngày 16/4/2013 của Văn phòng Quốc hội về việc việc tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào các dự án Luật trình Quốc hội xem xét và thông qua tại kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIII; ngày 07/5/2013, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở. Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở cụ thể như sau: I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. Về kết cấu, bố cục của dự thảo Luật - Đa số ý kiến cho rằng dự thảo Luật Hòa giải ở cơ sở có 5 Chương, 33 Điều là phù hợp; dự thảo được xây dựng công phu, đã pháp điển hóa và kế thừa nhiều nội dung cơ bản của Pháp lệnh Hòa giải ở cơ sở, đồng thời bổ sung thêm nhiều quy định mới; cấu trúc, bố cục dự thảo Luật hợp lý, chặt chẽ, nhiều điều luật đã được chi tiết hóa, dễ hiểu, có tính khả thi. - Có ý kiến đề nghị gộp Điều 5 và Điều 6 thành một Điều; chuyển Điều 31 sang các văn bản hướng dẫn dưới Luật để đảm bảo Luật có tính lâu dài. 2. Về đối tượng điều chỉnh: Có ý kiến cho rằng đối tượng điều chỉnh của một đạo luật là những nhóm quan hệ xã hội xác định, có đặc tính cơ bản giống nhau và do những quy phạm thuộc đạo luật đó điều chỉnh. Nếu không có quy định cụ thể, người áp dụng Luật sẽ tự suy đoán, gây khó khăn trong quá trình thực thi, do đó đối với Luật Hòa giải ở cơ sở đề nghị bổ sung quy định về đối tượng điều chỉnh là “Mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức khi có mâu thuẫn tranh chấp ở cơ sở” và cần xác định rõ người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài đang cư trú ở Việt Nam có thuộc đối tượng áp dụng của Luật Hòa giải ở cơ sở không? - Có ý kiến đề nghị, Ban soạn thảo cần nghiên cứu, qui định theo hướng xác định hoạt động hòa giải trong thành viên, hội viên của các tổ chức chính trị xã hội tại cơ sở là đối tượng điều chỉnh của Luật Hòa giải ở cơ sở 3. Về mối quan hệ giữa hòa giải viên và Tổ hòa giải: Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật chưa xác định cụ thể mối quan hệ giữa Hòa giải viên và Tổ hòa giải. Điều này sẽ dẫn đến việc áp dụng Luật có thể đồng thời theo cả hai hướng: Hòa giải viên độc lập không thuộc về một Tổ hòa giải nào hoặc Hòa giải viên thuộc về một Tổ hòa giải. Trong quá trình hoạt động, tùy theo tình huống và trường hợp cụ thể, hòa giải viên có thể hoạt động độc lập hoặc theo nhóm, theo tổ nhưng cần phải thuộc một đơn vị (Tổ hòa giải hoặc Ban hòa giải) để sinh hoạt và trực tiếp quản lý. 4. Về việc thành lập Tổ hòa giải hay Ban hòa giải ở cấp xã - Đa số ý kiến đề nghị không quy định Ban hòa giải (Hội đồng hòa giải) cấp xã vì sẽ làm cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi qua hai cấp, làm hạn chế quyền khởi kiện ra tòa của công dân đối với các tranh chấp cũng như việc tuân thủ pháp luật của công dân. - Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật không qui định Ban hòa giải (Hội đồng hòa giải) cấp xã vì “loại đơn vị” này được thành lập theo qui định của Luật Đất đai, mang tính hành chính khác với tính tự nguyện của hoạt động hòa giải. Nhưng trong thực tế, có nhiều trường hợp Ban hòa giải (Hội đồng hòa giải) với đủ thành phần đại diện chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể cấp xã vẫn thực hiện hoạt động hòa giải về Hôn nhân gia đình, bạo lực gia đình, hoặc tham gia hòa giải trong các trường hợp các bên mâu thuẫn không ở cùng thôn, tổ dân phố. Việc thành lập Tổ hòa giải, Ban hòa giải (Hội đồng hòa giải) là vấn đề qui định về mô hình bộ máy của một tổ chức hoạt động mang tính tự nguyện, theo nguyện vọng của người dân nên sẽ phụ thuộc vào tình hình thực tế, đặc thù của mỗi địa phương. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng mở: các địa phương tùy theo đặc thù riêng có thể quyết định thành lập theo mô hình Ban hòa giải cấp xã, sau đó đến các Tổ hòa giải tại các khu dân cư; hoặc theo mô hình chỉ có các Tổ hòa giải tại khu dân cư mà không cần có Ban hòa giải. 5. Về đảm bảo lồng ghép bình đẳng giới trong Luật Ban soạn thảo đã tiếp thu, qui định về đảm bảo bình đẳng giới trong dự thảo Luật ở khoản 2, Điều 12, khoản 3, Điều 13. Tuy nhiên, dự thảo Luật cần thể hiện yếu tố lồng ghép bình đẳng giới trong các trường hợp: đảm bảo có cả nam và nữ hòa giải viên trong Tổ hòa giải, xác định tỷ lệ nữ tối thiểu trong Tổ hòa giải (có thể là 30%), quyền được lựa chọn Hòa giải viên của phụ nữ, vụ việc nhất thiết phải có Hòa giải viên là nữ (hôn nhân và gia đình, phân biệt đối xử nam nữ, định kiến giới…). Nếu chỉ qui định như dự thảo Luật sẽ không bao hàm được các trường hợp cần có Hòa giải viên nữ, ví dụ: vụ việc liên quan đến hôn nhân gia đình, bạo lực gia đình, một số trường hợp khác tính chất vụ việc hoặc đối tượng liên quan là trẻ em và nam giới hòa giải viên nữ tham gia sẽ có hiệu quả hơn. 6. Về câu, từ, kỹ thuật văn bản : Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật có một số điều nội dung quy định còn dài dòng, sử dụng thuật ngữ mang tính định tính, dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau như: sử dụng thuật ngữ “nếu thấy cần thiết” (khoản 1 Điều 19 và khoản 4 Điều 21); “có thể mời” (khoản 4 Điều 21); “trừ trường hợp cần thiết” (khoản 3 Điều 20)... Đề nghị Ban soạn thảo rà soát chỉnh sửa câu, từ, ngữ pháp cho đúng văn phong pháp lý. II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ 1. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1): - Khoản 1: Có ý kiến đề nghị viết lại như sau: “Luật này quy định về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở”. - Khoản 2: Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “hòa giải thương mại, trọng tài” bằng “hòa giải trọng tài thương mại”. 2. Về các vụ, việc, mâu thuẫn, tranh chấp không được hòa giải (Điều 3) - Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định “tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự vi phạm đến điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội” - Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “Quan hệ hôn nhân trái pháp luật” vì trong thực tế tại cơ sở những trường hợp này thường xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp rất cần hòa giải và thường được hòa giải. 3. Về nguyên tắc hoạt động hòa giải ở cơ sở (Điều 4) - Khoản 2: Có ý kiến chuyển nội dung “quan tâm đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật và người cao tuổi” xuống khoản 4 - Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “chủ động, kiên trì” sau cụm từ “kịp thời” 4. Về chính sách của Nhà nước về hòa giải ở cơ sở (Điều 5) - Khoản 1: Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể về “hình thức hòa giải khác” - Khoản 3: Có ý kiến đề nghị viết lại như sau: “Nhà nước tạo điều kiện, hỗ trợ kinh phí cho hoạt động hòa giải ở cơ sở nhằm bảo đảm chi trả thù lao cho hòa giải viên theo vụ việc; biên soạn, phát hành tài liệu, tổ chức bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ, kỹ năng về hòa giải ở cơ sở; sơ kết, tổng kết, khen thưởng đối với công tác hòa giải ở cơ sở và hỗ trợ các chi phí hành chính cần thiết cho hoạt động hòa giải ở cơ sở”; đề nghị bổ sung khoản 5 : “5. Chính phủ qui định chi tiết khoản 3 Điều này” đồng thời đề nghị bỏ Điều 6 5. Về hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở (Điều 6) Khoản 1: Một số ý kiến đề nghị thay cụm từ “chi trả thù lao” bằng cụm từ “hỗ trợ hoạt động” và viết lại như sau: “Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho công tác hòa giải ở cơ sở nhằm đảm bảo hỗ trợ hoạt động cho hòa giải viên theo vụ việc...” 6. Về tiêu chuẩn Hòa giải viên (Điều 7) - Khoản 1: Có ý kiến đề nghị bổ sung từ “tốt” sau cụm từ “Có phẩm chất đạo đức” - Khoản 2: Có ý kiến chuyển cụm từ “hiểu biết pháp luật” lên trước cụm từ “có khả năng thuyết phục” và bổ sung cụm từ “mềm mỏng, có sức khỏe”; có ý kiến đề nghị bổ sung tiêu chuẩn “có kiến thức xã hội”. 7. Về bầu, công nhận Hòa giải viên (Điều 8) - Nhiều ý kiến đồng ý với phương án 1: Vì phương án này thể hiện đầy đủ quy trình bầu, công nhận Hòa giải viên đồng thời cũng phù hợp với khoản 4 Điều 2 Luật này và đã được thực hiện trong nhiều năm qua. Người làm công tác hòa giải phải có uy tín trong nhân dân, nếu không có uy tín trong nhân dân thì khả năng thuyết phục các bên giải quyết mâu thuẫn là rất khó, nên hòa giải viên phải do do chính người dân ở cộng đồng bầu ra, nó thể hiện tính dân chủ cũng như uy tín của Hòa giải viên trong cộng đồng dân cư. - Một số ý kiến đồng ý với phương án 2 vì thực tế hiện nay ở các Tổ dân phố, thường Trưởng ban công tác Mặt trận kiêm Tổ trưởng Tổ hòa giải ở cơ sở, các Hòa giải viên thường là trưởng, phó các đoàn thể như vậy sẽ gắn trách nhiệm của Hòa giải viên (Tổ hòa giải) với những vụ việc và con người cụ thể cần hòa giải - Có ý kiến cho rằng nếu theo phương án 1 thì trong thực tế sẽ khó thực hiện, nhiều khu dân cư sẽ phải triệu tập nhiều lần mới đủ điều kiện có từ 50% đại diện hộ dân cư dự họp để bầu Hòa giải viên. Mặt khác, việc kiện toàn, bổ sung Hòa giải viên căn cứ trên cơ sở thực tế tình hình bộ máy Hòa giải viên của mỗi cơ sở (nếu tình huống xảy ra là số Hòa giải viên bị giảm quá 50% do nhiều lý do khách quan như tai nạn, vụ việc liên quan...) nếu bị phụ thuộc vào thời hạn cứng là 3 năm/lần mới kiện toàn sẽ không đáp ứng được yêu cầu tình hình thực tế. Do đó qui định bầu hòa giải viên theo phương án này còn nhiều bất cập, mang tính hình thức, ít tính khả thi. Nhưng nếu thực hiện theo phương án 2, qui định lựa chọn, công nhận Hòa giải viên theo qui trình “giao Mặt trận Tổ quốc phối hợp với các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc , trưởng thôn, tổ trưởng dân phố lựa chọn, giới thiệu danh sách đề nghị chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định công nhận” thì lại được thực hiện quá dễ dàng và phụ thuộc chủ yếu vào chủ quan của một nhóm người có liên quan là: Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc, phân công phối hợp với trưởng thôn, tổ trưởng dân phố và đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã... nên chưa thể hiện được nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc lựa chọn người tham gia hoạt động Hòa giải. Đề nghị qui định bầu Hòa giải viên theo qui trình “giao Mặt trận Tổ quốc chủ trì hiệp thương, phối hợp với chủ tịch UBND cấp xã lựa chọn, lập danh sách và trình HĐND cấp xã bầu Hòa giải viên. Việc củng cố, bổ sung Hòa giải viên sẽ được HĐND cho ý kiến và tiến hành bầu trong các kỳ họp HĐND định kỳ hằng năm trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch UBND cấp xã”. Như vậy, Hòa giải viên sẽ được bầu bởi các lá phiếu của đại biểu HĐND (là những người đã được nhân dân tín nhiệm bầu là người đại diện của nhân dân), được kịp thời củng cố, bổ sung kiện toàn khi cần thiết, không bị khuôn cứng vào qui định 3 năm/lần như phương án 1. Những cán bộ tham gia Hòa giải viên được bầu sẽ đảm bảo được các yếu tố: có uy tín, đại diện cho người dân ở đồng đều các địa bàn dân cư, đại diện cho MTTQ và tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ, không mâu thuẫn với pháp luật hiện hành và phù hợp với tình hình thực tế. 8. Về thôi làm Hòa giải viên (Điều 11) Khoản 2: Một số ý kiến đề nghị diễn đạt lại cho rõ hơn qui trình báo cáo và ra quyết định thôi làm Hòa giải viên và viết lại như sau “2.Trường hợp thôi làm hòa giải viên căn cứ theo quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 của Điều này thì tổ trưởng tổ hòa giải đề nghị Trưởng Ban công tác mặt trận làm văn bản báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định cho thôi làm Hòa giải viên”. 9. Về trách nhiệm của Tổ hòa giải (Điều 13) Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bổ sung “Câu lạc bộ phòng, chống bạo lực gia đình” 10. Về Tổ trưởng Tổ hòa giải (Điều 14) Khoản 1: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “hoặc bỏ phiếu kín” 11. Về những người được mời tham gia hòa giải (Điều 19) - Khoản 1: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “nếu thấy cần thiết”; Có ý kiến đề nghị bổ sung “gia đình,” trước cụm từ “dòng họ”; “trách nhiệm” sau cụm từ “uy tín”; 12. Về địa điểm, thời gian hòa giải (Điều 20) Có ý kiến đề nghị bỏ khoản 3 vì qui định như dự thảo Luật không có tính khả thi, sẽ gây khó khăn cho hòa giải viên, nên qui định như Pháp lệnh tổ chức hoạt động hòa giải ở cơ sở: “thời gian tiến hành hòa giải do Hòa giải viên quyết định nhưng bảo đảm thuận lợi cho các bên”. 13. Có ý kiến đề nghị bổ sung Điều 20a: Về phương thức hòa giải “Điều 20a. Phương thức hòa giải Việc hòa giải được tiến hành theo phương thức sau: 1. Bằng lời nói; 2. Bằng văn bản khi được các bên đồng ý hoặc yêu cầu; 3. Căn cứ vào từng vụ việc cụ thể, hòa giải viên tiến hành việc hòa giải bằng việc gặp gỡ, đối thoại với từng bên hoặc các bên; 4. Tìm hiểu sự việc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, tham khảo ý kiến của cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan, lắng nghe ý kiến của các bên và thu thập tài liệu chứng cứ làm cơ sở cho việc hòa giải”. 14. Về tiến hành hòa giải (Điều 21) - Khoản 1: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “bằng lời nói” - Khoản 3: Có ý kiến đề nghị viết lại như sau: “3. Hòa giải viên áp dụng những biện pháp thích hợp để hòa giải, phân tích các qui định pháp luật có liên quan, đạo đức xã hội và phong tục tập quán tốt đẹp của nhân dân; kết hợp chặt chẽ giữa tình và lý để thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận hợp pháp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó”; có ý kiến đề nghị bổ sung biện pháp “gặp riêng” rất có hiệu quả trong công tác hòa giải - Khoản 4: Có ý kiến đề nghị thay cụm từ “nếu thấy cần thiết” bằng cụm từ “khi được sự đồng ý của bên kia”. 15. Về hòa giải giữa các bên ở thôn, tổ dân phố khác nhau (Điều 22): - Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể đối với trường hợp các bên ở các Tổ dân phố thuộc các phường, xã khác nhau. - Có ý kiến đề nghị chuyển Điều 22 xuống sau Điều 27 16. Về kết thúc hoạt động hòa giải (Điều 23) Khoản 3: Nhiều ý kiến cho rằng quy định trên chưa sát với thực tế cuộc sống vì có những tranh chấp, mâu thuẫn phức tạp cần đến trên “3 lần hòa giải” mới hòa giải thành. Đề nghị sửa đổi theo hướng nới rộng thêm về số lần hòa giải tùy theo từng trường hợp cụ thể. 17. Về hòa giải thành (Điều 24) Khoản 2: Đa số ý kiến đề nghị không nên quy định mọi trường hợp hòa giải đều phải lập thành biên bản, bởi hòa giải ở cơ sở là việc hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết các mâu thuẫn với nhau, không phải là quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Việc hòa giải không dựa trên quy định của pháp luật mà dựa trên nguyên tắc tự nguyện, cũng như không được bảo đảm thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, biên bản hòa giải chỉ nên coi là một tài liệu để cơ quan nhà nước xem xét khi cần thiết. 18. Về theo dõi, đôn đốc việc thực hiện thỏa thuận hòa giải thành (Điều 26) Có ý kiến đề nghị thay từ “việc” bằng cụm từ “, giúp đỡ các bên” ở tên Điều và dòng thứ nhất của Điều luật. 19. Về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 29) Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu qui định rõ trách nhiệm quản lý, điều hành hoạt động các Tổ hòa giải, theo hướng: giao Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp quản lý, điều hành hoạt động hòa giải ở cơ sở. 20. Về quy định trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên (Điều 30). - Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể hơn trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên. - Khoản 1: Đề nghị thay cụm từ “tham gia quản lý nhà nước” bằng cụm từ “phối hợp Ủy ban nhân dân cùng cấp triển khai” cho phù hợp với quy định chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc tại Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội.Lượt xem: 764
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.