Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Khí tượng thủy văn
Về yêu cầu đối với dự báo, cảnh báo KTTV (Điều 21), đề nghị bổ sung yêu cầu về bảo đảm chất lượng bản tin dự báo, cảnh báo KTTV, vì đây là yêu cầu quan trọng nhất trong công tác phòng chống thiên tai, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Ý kiến khác đề nghị, bổ sung yêu cầu về trách nhiệm có tính đặc thù đối với dự báo viên vì khi dự báo sai sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, mặc dù dự báo viên đã được điều chỉnh bằng các quy định trong Luật công chức, Luật viên chức.
Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ 10, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã triển khai lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Khí tượng thủy văn. Theo đó, đa số các ý kiến nhất trí với phạm vi điều chỉnh, kết cấu, bố cục của dự thảo Luật và nhận thấy: Dự thảo luật đã thể hiện các quy định điều chỉnh các hoạt động khí tượng thủy văn (KTTV) của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; công tác quản lý nhà nước và quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động KTTV và cho rằng dự thảo Luật được Quốc hội xem xét, thông qua sẽ tạo ra bước thay đổi quan trọng cho công tác quản lý nhà nước về KTTV; bảo đảm điều kiện cho hoạt động KTTV phát triển, cung cấp và sử dụng thông tin KTTV trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội có hiệu quả. Nội dung các điều, khoản thể hiện ngôn ngữ pháp lý dễ hiểu, dễ áp dụng. Có ý kiến cho rằng hoạt động KTTV là hoạt động đặc thù do giá trị và hiệu quả của nó mang đến, nên cần có sự độc quyền quản lý của Nhà nước. Trường hợp Quốc hội quyết định cho phép các tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước tham gia hoạt động khí tượng thủy văn cũng cần hạn chế một số lĩnh vực (như việc dự báo, cảnh báo thiên tai) vì hậu quả của việc đưa ra những dự báo, cảnh báo không chính xác sẽ ảnh hưởng đến tâm lý cũng như những tác động xấu đến đời sống xã hội, đến sản xuất, phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Có ý kiến cho rằng trong dự thảo luật, các hoạt động nghiên cứu khoa học về KTTV chưa được quan tâm, thể hiện một cách thích đáng. Đề nghị bổ sung vào Điều 38, Chương VI, khoản 1, nội dung nghiên cứu khoa học cơ bản làm sáng tỏ bản chất tự nhiên, nguyên nhân hình thành và cơ chế phát triển của các hiện tượng KTTV bất thường xuất hiện trên lãnh thổ Việt Nam, trong khu vực và trên thế giới có khả năng ảnh hưởng đến đời sống xã hội trong nước để làm cơ sở cho các phương án cảnh báo, dự báo, phòng ngừa thiệt hại thiên tai có nguồn gốc KTTV gây ra. Về nguyên tắc hoạt động khí tượng thủy văn (Điều 4), nội dung khoản 1 thể hiện tất cả các hoạt động khí tượng thủy văn đều do ngân sách Nhà nước đảm bảo, đề nghị làm rõ đối với các hoạt động KTTV do các cá nhân, tổ chức khác thực hiện có được ngân sách Nhà nước đảm bảo không? Về Điều 8. Những hành vi bị cấm, có ý kiến cho rằng các công trình giám sát biến đổi khí hậu cũng cần được bảo vệ như trạm KTTV thậm chí cần có những yêu cầu cao hơn để đánh giá đúng mức độ biến đổi khí hậu. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, bổ sung các hành vi vi phạm của các tổ chức, cá nhân đối với hành lang an toàn Trạm giám sát biến đổi khí hậu. Về Quy hoạch mạng lưới trạm thủy văn quốc gia (Điều 11), hiện nay, ngoài mạng lưới trạm giám sát biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường còn quản lý các trạm quan trắc, giám sát về môi trường và tài nguyên nước; vì vậy để thống nhất trong quản lý, việc quy hoạch, xây dựng mạng lưới trạm KTTV, mạng lưới trạm giám sát biến đổi khí hậu quốc gia, đề nghị quy định rõ việc kết hợp giữa mạng lưới trạm giám sát biến đổi khí hậu với quy hoạch, xây dựng mạng lưới trạm quan trắc, giám sát về môi trường và tài nguyên nước. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu thêm về kỳ quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia, vì: Theo quy định tại khoản 2 điều này thì “Kỳ quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm”; tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 37 Luật Đất đai năm 2013 quy định kỳ quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia cũng là 10 năm, tầm nhìn đến 20 năm, như vậy có thể xẩy ra trường hợp trùng lắp về xây dựng kỳ quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia và Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia (thông thường, mạng lưới trạm KTTV quốc gia phải được quy hoạch trước làm cơ sở để lập Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia). Có ý kiến đề nghị nghiên cứu, bổ sung việc lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động khi lập quy hoạch mạng lưới trạm KTTV quốc gia. Theo các quy định của pháp luật hiện hành (Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch đô thị...) khi lập quy hoạch nói chung, quy hoạch chuyên ngành nói riêng đều có quy định việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, đối tượng chịu sự tác động. Về quan trắc KTTV (Điều 13), có ý kiến cho rằng quy định về cung cấp thông tin, dữ liệu quan trắc KTTV như dự thảo là chưa rõ thông tin đó phải được cung cấp lúc nào và bằng hình thức nào? Nếu không quy định rõ trong dự thảo sẽ dễ dẫn đến thiếu trách nhiệm hoặc thông tin đại khái của các chủ công trình. Đề nghị nghiên cứu, cụ thể hóa ngay trong Luật, không nên giao Chính phủ quy định chi tiết khoản này. Về yêu cầu đối với dự báo, cảnh báo KTTV (Điều 21), đề nghị bổ sung yêu cầu về bảo đảm chất lượng bản tin dự báo, cảnh báo KTTV, vì đây là yêu cầu quan trọng nhất trong công tác phòng chống thiên tai, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Ý kiến khác đề nghị, bổ sung yêu cầu về trách nhiệm có tính đặc thù đối với dự báo viên vì khi dự báo sai sẽ gây hậu quả nghiêm trọng, mặc dù dự báo viên đã được điều chỉnh bằng các quy định trong Luật công chức, Luật viên chức. Về dự báo, cảnh báo KTTV của tổ chức, cá nhân (Điều 25), có ý kiến đề nghị sửa lại tên điều này thành “Điều 25. Điều kiện và thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV” cho phù hợp với nội dung các khoản được trình bày. Việc phân cấp về thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dự báo, cảnh báo KTTV cho tổ chức, cá nhân như quy đinh tại khoản 5 là cần thiết. Tuy nhiên, đề nghị cân nhắc về tính khả thi khi giao thẩm quyền này cho Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Vì đây là nội dung mới, hơn nữa để thực hiện được thẩm quyền này, bảo đảm không có vi phạm xảy ra thì phải có bộ máy giúp việc, tham mưu nghiên cứu, chuẩn bị hồ sơ trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định, với cơ cấu, tổ chức hiện hành liệu đã đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ này hay chưa? Về Quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ KTTV (Điều 40), nhiều ý kiến đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ (hiện có 5 quyền nhưng chỉ có 3 nghĩa vụ), trách nhiệm cụ thể của tổ chức, cá nhân nếu dự báo sai, không chính xác làm thiệt hại cho người dân, cho từng địa phương và chế tài xử lý vi phạm... Toàn văn báo cáo tổng hợp góp ý vào dự thảo Luật KTTV MINH TÚLượt xem: 498
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.