Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi)

Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), đa số ý kiến cho rằng việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại của Luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới thực hiện nền tài chính công khai, minh bạch, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013.

Để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), đa số ý kiến cho rằng việc sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại của Luật hiện hành, đáp ứng yêu cầu đặt ra trong quá trình tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cải cách hành chính và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, hướng tới thực hiện nền tài chính công khai, minh bạch, phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013.

Nhiều ý kiến đồng tình với tên gọi của dự thảo Luật là “Luật Ngân sách nhà nước” vì tên gọi này đã được sử dụng ổn định trong 10 năm qua, đã đi vào cuộc sống, các cơ quan, tổ chức có liên quan và người dân quan tâm cũng đã có những hiểu biết nhất định về ngân sách nhà nước thông qua các nội dung được quy định trong Luật.

Với kết cấu 7 chương, 76 điều (giảm 01 chương, 01 điều so với Luật hiện hành), bố cục của Dự thảo Luật ngân sách đã bảo đảm lôgic, ngắn gọn, súc tích và hợp lý, sẽ thuận lợi cho việc nghiên cứu, áp dụng các quy đnh của Luật, đặc biệt là đối với việc giám sát của các cơ quan chức năng, của người dân quan tâm đến việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định về nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan Thuế, Kho bạc nhà nước vào Chương II của dự thảo Luật.

Việc xác định mức độ tập trung và phân cấp trong quản lý điều hành ngân sách là một nội dung quan trọng, đề nghị dự thảo Luật quy định cụ thể hơn về nội dung phân cấp, phân loại các địa phương để xác định mức độ giao quyền và trách nhiệm; nên quy định theo hướng có tính đến đặc thù của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo các tiêu chí quy mô, trình độ phát triển, xác định trách nhiệm và giao quyền theo mức độ với từng nhiệm vụ cụ thể để giảm dần việc lồng ghép trong ngân sách, phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp chính quyền và nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan đến ngân sách. Trong đó, đối với Thủ đô Hà Nội cần quy định cụ thể cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thùkhắc phục tình trạng dẫn chiếu Luật Thủ đô, gây mâu thuẫn với phạm vi áp dụng của Luật.

Có ý kiến cho rằng, quy đnh về giám sát ngân sách Nhà nước là nội dung mới được thể hiện tại Điều 1 và Điều 3 của dự thảo Luật. Đây là quan điểm bổ sung rất đúng nhằm đảm bảo cho ngân sách nhà nước được sử dụng đúng mục đích, đúng quy đnh, đảm bảo độ an toàn của ngân sách quốc gia, chống lãng phí, quan liêu. Tuy nhiên, trong các nội dung của dự thảo Luật chưa quy đnh đầy đủ về chủ thể giám sát và cơ chế giám sát. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên quy định cụ thể ngay trong dự thảo Luật về chủ thể giám sát, cơ chế giám sát, trách nhiệm của các cơ quan quản lý ngân sách trong việc báo cáo thu, chi ngân sách theo yêu cầu của chủ thể giám sát.

Có ý kiến đề nghị dự thảo Luật bổ sung trách nhiệm giải trình trước cơ quan dân cử về ngân sách nhà nước vào các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan nhà nước và trách nhiệm, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân về ngân sách nhà nước nhằm bảo đảm căn cứ pháp lý cho việc thực hiện trách nhiệm giải trình của các chủ thể có liên quan trong việc lập, phân bổ, thực hiện và quyết toán ngân sách.

Về phạm vi thu, chi ngân sách nhà nước (Điều 5)Khoản 1: Có ý kiến cho rằng, dự thảo Luật chưa bao quát hết nội hàm các khoản thu ngân sách nhà nước. Đề nghị bổ sung vào dự thảo Luật khoản thu ngân sách nhà nước phần lợi nhuận từ vốn góp của Nhà nước đầu tư trong doanh nghiệp và thu lợi nhuận từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Đề nghị bổ sung các khoản thu: Thu phạt vi phạm hành chính, thu đền bù đất do nhà nước thu hồi đất; thu khoán quỹ đất công ích và hoa lợi công sản; thu b sung cân đi, b sung có mục tiêu từ ngân sách cấp trên, thu đóng góp tự nguyện xây dựng cơ sở hạ tầng.

Về hệ thống ngân sách nhà nước (Điều 6)Khoản 2: Có ý kiến cho rằng, quy định như dự thảo Luật mới chỉ phù hợp với chủ trương không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường nhưng sẽ không phù hợp với trường hp đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt đã được Hiến pháp 2013 quy định. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định riêng về ngân sách của đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo hướng được thực hiện theo luật riêng hoặc theo Nghị quyết của Quốc hội.

 

Về nguyên tắc cân đối ngân sách nhà nước (Điều 7), có ý kiến cho rằng, quy định như dự thảo Luật thì dẫn đến kế hoạch đầu tư phát triển nguồn NSNN sẽ luôn trong thế bị động và không cân đối được.Vì vậy, việc cân đối NSNN phải dựa trên cơ sở tổng nguồn, bao gồm: Tổng thu NSNN, bội chi và nhu cầu chi được tính toán căn cứ mục tiêu, chính sách và các tiêu chí định mức chi. Đ nghị Ban soạn thảo quy định theo hướng "Dành toàn bộ sổ bội chi NSNN, tiền thu về sử dụng đất và một phần tiền thu về tài nguyên cho đầu tư phát triển".

Về công khai ngân sách nhà nước và giám sát ngân sách nhà nước của cộng đồng (Điều 15), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định cụ thể về công khai hóa và giám sát ngân sách nhà nước vào ngay dự thảo Luật mà không giao Chính phủ quy định và nghiên cứu bổ sung quy định về biện pháp xử lý đối với việc không thực hiện công khai ngân sách nhà nước. 

Về thẩm quyền của các cơ quan, có ý kiến cho rằng, dự thảo Luật còn có những quy định vừa chồng lấn, vừa chưa rõ ràng, như Khoản 6 Điều 25 trao cho Chính phủ quyền “quyết định các giải pháp và tổ chức điều hành thực hiện ngân sách nhà nước được Quốc hội quyết định; kiểm tra việc thực hiện ngân sách nhà nước; báo cáo Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội về tình hình thực hiện ngân sách nhà nước, các chương trình, dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư”. Trong khi đó, quyền hạn của Quốc hội ở điểm d khoản 3 Điều 19: Quốc hội quyết định định hướng kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước trong đó có quyết định “giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch”. Theo các quy định này sẽ dẫn đến các ý kiến khác nhau xung quanh phạm vi của “giải pháp” và “giải pháp chủ yếu để thực hiện kế hoạch”. 

Về nguồn thu Ngân sách trung ương (Điều 35)Khoản 2: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định theo hướng các khoản thu từ thuế thu nhập cá nhân và thuế bảo vệ môi trường (không kể thuế bảo vệ môi trường quy định tại điểm d, khoản 1 Điều 35) được điều tiết 100% cho địa phương vì nguồn từ các khoản thu này không lớn (Thuế thu nhập cá nhân chủ yếu thu từ tiền lương, tiền công), để nâng cao trách nhiệm địa phương trong việc đôn đốc thu nộp và nâng cao trách nhiệm bảo vệ môi trường tại các địa phương, đặc biệt đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có nguy cơ gây ô nhiễm.

Về nguyên tắc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp ở địa phương (Điều 39), có ý kiến đề nghị quy định cụ thể khoản thu nào bắt buộc dùng để chi đầu tư, không được chi thường xuyên (tiền sử dụng đất, đền bù thiệt hại do nhà nước thu hồi đất, huy động đóng góp tự nguyện xây dng cơ sở hạ tầng, tăng thu ngân sách địa phương ...) và đối với ngân sách cấp xã cần ưu tiên phân bổ thêm nguồn thu tiền sử dụng đất vào các khoản thu phân chia theo tỷ lệ % giữa các cấp ngân sách để cấp xã chủ động nguồn vốn thực hiện đầu tư các côngtrình XDCB tại địa phương theo phân cấp.

Về thời hạn và trình tự quyết toán ngân sách địa phương (Điều 68), có ý kiến cho rằng, để thuận lợi cho công tác kiểm toán các cấp ngân sách, các cơ quan, đơn vị và tổ chức sử dụng ngân sách nhà nước được nhanh chóng, hiệu quả, cần có quy định về việc gửi báo cáo quyết toán cho cơ quan Kiểm toán nhà nước. Để phục vụ kịp thời cho việc phê chuẩn quyết toán của Quốc hội và HĐND các tỉnh, thành phố, đề nghị quy định thời gian gửi báo cáo quyết toán ngân sách của các tỉnh, thành phố và đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách trung ương cho Bộ Tài chính và Kiểm toán Nhà nước trước ngày 30/6 năm sau; Bộ Tài chính tổng hợp, lập báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước trình Chính phủ và gửi Kiểm toán nhà nước trước ngày 31/10 năm sau.

Toàn văn báo cáo tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật NSNN (sửa đổi)

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 801

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.