Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Trưng cầu ý dân
Đa số ý kiến nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Trưng cầu ý dân, vì khi Luật ban hành sẽ tạo cơ sở pháp lý cho người dân trực tiếp tham gia vào các công việc của Nhà nước, trực tiếp thể hiện ý chí và thực hiện quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề hệ trọng của đất nước. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Thực hiện chương trình hoạt động, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Trưng cầu ý dân. Đa số ý kiến nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật Trưng cầu ý dân, vì khi Luật ban hành sẽ tạo cơ sở pháp lý cho người dân trực tiếp tham gia vào các công việc của Nhà nước, trực tiếp thể hiện ý chí và thực hiện quyền làm chủ của mình đối với các vấn đề hệ trọng của đất nước. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu sự phát triển của nền dân chủ XHCN ở nước ta. Về bố cục, có ý kiến cho rằng để đảm bảo tính hợp lý và logic liên tục của các điều khoản (Điều 44, 45, 46), đề nghị chuyển thứ tự Điều 45 và 46 cho nhau để liền mạch với Điều 44 cụ thể như sau: Điều 44 quy định về “Báo cáo kết quả trưng cầu ý dân của UBND cấp xã”', Điều 45 quy định “Báo cáo kết quả trưng cầu ý dân của UBND cấp tỉnh”, Điều 46 quy định về “Bỏ phiếu trưng cầu ý dân lại”. Ý kiến khác cho rằng chuyển Điều 11 (về kinh phí tổ chức trưng cầu ý dân) xuống chương cuối cùng để tổ chức thực hiện, như vậy bố cục của dự thảo Luật sẽ phù hợp hơn. Về giải thích từ ngữ (Điều 3), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị thay từ “công dân” bằng từ “cử tri”, như vậy mới chính xác và phù hợp với quy định tại Điều 5 của dự thảo Luật; Khoản 4: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “đủ 18 tuổi trở lên” sau cụm từ “Cử tri là người”; một số thuật ngữ như “đề nghị trưng cầu ý dân”, “phiếu trưng cầu ý dân”, ‘‘cử tri”… không phải giải thích vì đây là những thuật ngữ phổ thông, dễ hiểu; tuy nhiên, bổ sung giải thích các thuật ngữ: “thẩm tra đề nghị trưng cầu ý dân”, “vấn đề quan trọng”; “vấn đề đặc biệt quan trọng” và “vấn đề quan trọng khác”. Về nguyên tắc trưng cầu ý dân (Điều 4), có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc: “Việc tổ chức trưng cầu ý dân phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả”. Về người có quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân (Điều 5), có ý kiến đề nghị thay cụm từ “biểu quyết” bằng cụm từ “bỏ phiếu” vì dự thảo luật đã quy định việc “biểu quyết theo hình thức bỏ phiếu”. Về những vấn đề trưng cầu ý dân (Điều 6), Khoản 2: Có ý kiến đề nghị dự thảo Luật không quy định trưng cầu ý dân về những chính sách quan trọng có liên quan đến chủ quyền, an ninh quốc gia; Khoản 5: Có ý kiến đề nghị quy định cụ thể danh mục về những vấn đề quan trọng cần trưng cầu ý dân kèm theo Luật này để tránh việc tùy nghi trong quá trình ra quyết định. Cũng có ý kiến cho rằng, dự thảo Luật liệt kê những vấn đề trưng cầu ý dân tuy nhiên chưa đề cập đến việc lấy ý kiến xây dựng các dự án luật, điều chỉnh địa giới hành chính của một địa phương hay nhiều địa phương nhưng có ảnh hưởng đến các địa phương khác, vùng, miền... Do vậy đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định theo nhóm vấn đề cần trưng cầu ý dân, một số vấn đề liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân, vấn đề về văn hóa, vấn đề về kinh tế - xã hội ... Ngoài ra, việc sử dụng nhiều từ ngữ mang tính định tính như “vấn đề đặc biệt quan trọng” (tại khoản 2,4); “vấn đề quan trọng khác” (khoản 5) sẽ khó khăn trong quá trình triển khai Luật. Về phạm vi tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 7), nhiều ý kiến đại biểu nhất trí như quy định của dự thảo Luật: Trưng cầu ý dân được thực hiện trên phạm vi cả nước vì Hiến pháp quy định thẩm quyền quyết định trưng cầu ý dân là của Quốc hội, chính quyền địa phương không có thẩm quyền này. Đồng thời theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội những vấn đề quan trọng của đất nước ở tầm quốc gia cần đưa ra toàn dân quyết định. Đối với những vấn đề chỉ ảnh hưởng đến phạm vi một hoặc một số địa phương thì không thực hiện trưng cầu ý dân mà áp dụng hình thức lấy ý kiến nhân dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật hiện hành. Ngược lại, một số ý kiến cho rằng, việc thực hiện trưng cầu ý dân trong phạm vi cả nước là quá rộng, có thể gây tốn kém cho ngân sách nhà nước, đồng thời có thể không phản ánh đúng thực tế vấn đề của địa phương. Ban soạn thảo nên quy định trưng cầu ý dân trong phạm vi địa phương, khu vực hay quốc gia và giao Quốc hội quyết định cụ thể. Nếu có quy định tổ chức trưng cầu ý dân ở phạm vi địa phương, những vấn đề cần đưa ra trưng cầu ý dân có thể là: Điều chỉnh địa giới hành chính; việc xây dựng các công trình lớn có nguy cơ ảnh hưởng đến môi sinh của một vùng, hoặc chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa, thể thao); hương ước, quy ước làng văn hóa, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội... Về những trường hợp không tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 8), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung những trường hợp không trưng cầu ý dân đối với những vấn đề nhạy cảm như chính trị, ngân sách, tổ chức quyền lực nhà nước hay những vấn đề chưa trưng cầu đã biết kết quả như thuế, đất đai... nhằm bảo đảm sự ổn định chính trị, xã hội. Mặt khác, nếu lấy ý kiến nhân dân trong trường hợp này đòi hỏi đối tượng được lấy ý kiến phải là người có kiến thức, chuyên môn cao và rất am hiểu lĩnh vực cần lấy ý kiến mới có thể đưa ra được quyết định hợp lý, đúng đắn, chứ không thể đưa ra quyết định mang tính cảm tính, phong trào. Ví dụ: Việc các doanh nghiệp đánh giá chỉ số năng lực cạnh tranh CPI của các địa phương những năm qua chưa đem lại kết quả chính xác, chưa có tiêu chí đánh giá mà chỉ dựa trên trên cảm hứng của doanh nghiệp. Về hiệu lực của kết quả trưng cầu ý dân (Điều 10), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu tính đến trường hợp Quốc hội không thông qua Nghị quyết xác nhận kết quả trưng cầu ý dân thì kết quả trưng cầu ý dân có hiệu lực không và lưu ý, đây là ý dân, có ý nghĩa quyết định. Về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 12), có ý kiến đề nghị đưa khoản 4 lên trước khoản 1 vì lợi ích quốc gia, dân tộc, cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân là quan trọng và phải được đặt lên hàng đầu. Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định nghiêm cấm “những vấn đề trưng cầu ý dân trái với Hiến pháp”. Về đề nghị trưng cầu ý dân (Điều 13), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định “ít nhất 1/2 tổng số đại biểu Quốc hội”, vì đây là những vấn đề mới, khó và nhạy cảm tác động đến tâm lý, nhận thức xã hội sâu sắc nên cần có số đông. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo bổ sung chủ thể có quyền đề nghị trưng cầu ý dân như: Ban thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì theo quy định của Hiến pháp năm 2013, "MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đảng của nhân dân, tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội…” Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định: Khi đã có kết quả trưng cầu ý dân thì phải thực hiện trong một thời gian bao nhiêu lâu sau thì mới được tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân khác về cùng một vấn đề đã được đưa ra trưng cầu ý dân trước đó. Đề nghị quy định đối với cuộc trưng cầu ý dân lại trên phạm vi cả nước là 5 năm, đối với địa phương là 3 năm Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị bổ sung quy định các trường hợp cần trưng cầu ý dân và trình tự trưng cầu ý dân rút gọn; bổ sung quy định về trưng cầu ý dân qua mạng để mang lại kết quả nhanh hơn, ít tốn kém hơn… Toàn văn báo cáo tổng hợp xem tại đây MINH TÚLượt xem: 536
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.