Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư

Đề nghị bỏ quy định "thẻ luật sư có thời hạn 5 năm và được đổi khi hết hạn” vì việc đổi thẻ luật sư gây tốn kém, lãng phí thời gian, công sức. Mặt khác, quản lý luật sư thông qua hoạt động hành nghề của họ, chứ không phải thông qua việc cấp, đổi thẻ.

Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật  sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư như sau: 

1. Về chức năng xã hội của luật sư (Điều 3)

- Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ "các quyền tự do, dân chủ của công dân”.

- Có ý kiến đề nghị viết lại cho rõ như sau: "Hoạt động nghề nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý; quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đặc biệt là quyền tự do dân chủ của công dân; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức; phát triển kinh tế- xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

2. Về các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 9)

- Khoản 1, điểm c: Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật quy định việc “tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết trong khi hành nghề, trừ trường hợp được khách hàng đồng ý bằng văn bản....”, việc quy định như vậy còn chung chung, chưa hợp lý vì trong quá trình hành nghề nhiều khi phải sử dụng chính thông tin đó để phục vụ cho việc giải quyết vụ việc và vì quyền lợi của chính khách hàng. Đề nghị quy định cụ thể hơn như sau: “tiết lộ thông tin về vụ việc, về khách hàng mà mình biết cho những người, cơ quan tổ chức không liên quan đến việc giải quyết vụ việc gây thiệt hại cho khách hàng”.

- Khoản 1, điểm a: Có ý kiến cho rằng không nên để tách vụ án dân sự và việc dân sự mà gọi chung luôn là “vụ việc dân sự” theo đúng từ của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Khoản 1, điểm đ: Có ý kiến cho rằng quy định “nhận, đòi hỏi bất kỳ một khoản tiền, lợi ích nào khác từ khách hàng ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận...” là cứng nhắc, không hợp lý. Hoạt động hành nghề của luật sư cũng mang tính chất dịch vụ, dựa trên uy tín và hiệu quả công việc. Do đó, cũng mang tính cạnh tranh và khách hàng được hoàn toàn tự do lựa chọn. Khi kết quả công việc tốt, khách hàng hài lòng, ghi nhận công sức nên họ cảm ơn, biếu tặng thêm cũng là hoàn toàn tự nguyện, không mang tính chất trục lợi, không vi phạm pháp luật do vậy nên bỏ từ "nhận" trong dự thảo Luật.

- Khoản 1, điểm g:

+ Có ý kiến cho rằng cần cụ thể hóa điểm g, khoản 1 nếu không sẽ khó áp dụng Luật vào thực tiễn, cần làm rõ hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội như: Lợi dụng danh nghĩa luật sư, Văn phòng luật sư tham dự các hội nghị tự do, nhân quyền do các tổ chức phản động nước ngoài tổ chức, tham gia các cuộc biểu tình, các cuộc khiếu nại, tố cáo đông người trái pháp luật…

- Khoản 1, điểm h: Có ý kiến cho rằng nên quy định cụ thể giai đoạn không được nhận quà là “... trước khi kết thúc vụ việc...”

- Khoản 2:

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “lời nói” vào trước cụm từ “hành vi”

3. Về đào tạo nghề luật sư (Điều 12)

- Khoản 1: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ "theo quy chế đào tạo của cơ sở đào tạo nghề luật sư” vào sau cụm từ “đào tạo nghề luật sư”

4. Về điều kiện miễn đào tạo nghề luật sư (Điều 13)

- Khoản 2: Đa số ý kiến tán thành thời gian đào tạo nghề Luật sư là 12 tháng để nâng cao chất lượng và kỹ năng hành nghề cho người tham gia đào tạo. Và có ý kiến đề nghị trong thời gian 12 tháng Học Viện tư pháp phải cho học viên đi thực tế để có thêm kiến thức thực hành;

- Đa số ý kiến cho rằng không nên mở rộng các đối tượng được miễn đào tạo nghề Luật sư.

5. Về tập sự hành nghề luật sư và kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư (Điều 14, Điều 15)

- Điều 14, Khoản 1: Đa số ý kiến tán thành với việc quy định thời gian tập sự hành nghề luật sư là 12 tháng; Có ý kiến đề nghị quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của luật sư hướng dẫn trong dự thảo Luật; có ý kiến đề nghị thay câu “thời gian tập sự hành nghề luật sư được tính từ ngày đăng ký tập sự tại Đoàn luật sư” bằng câu “Thời gian tập sự hành nghề luật sư được tính từ ngày Đoàn luật sư cấp Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư”

+ Có ý kiến đề nghị thay cụm từ "đăng ký tập sự tại Đoàn luật sư" bằng cụm từ "Đoàn luật sư cấp Giấy chứng nhận người tập sự hành nghề luật sư”.

- Điều 14, khoản 2:

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung quyền và nghĩa vụ của tổ chức nhận luật sư tập sự và trách nhiệm của luật sư tập sự.

- Điều 14, Khoản 3:

+ Có ý kiến cho rằng quy định không cho phép người tập sự hành nghề luật sư tham gia tố tụng là chưa phù hợp vì sẽ làm mất ý nghĩa của việc tập sự, không mang lại kết quả thực tế cho người tập sự hành nghề luật sư. Hơn nữa, trong Pháp lệnh Luật sư năm 2001 quy định chế định luật sư tập sự, cho phép luật sư tập sự được tham gia tố tụng ở cấp sơ thẩm dưới sự hướng dẫn của luật sư hướng dẫn. Vì vậy nên đưa chế định “Luật sư tập sự” vào dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung lần này;

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ "không được là luật sư hướng dẫn trong thời hạn 36 tháng, kể từ khi chấp hành xong hình thức kỷ luật" vào sau cụm từ “tại khoản 1 Điều 85 của Luật này”.

- Điều 15, Khoản 2:

+ Có ý kiến đề nghị bổ sung "đại diện cơ sở đào tạo nghề Luật sư"  vào thành viên Hội đồng kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư.

6. Về cấp chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 17)

+ Có ý kiến cho rằng không nên quy định "Liên đoàn Luật sư Việt Nam tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư”. Đề nghị quy định"Bộ Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn và giám sát việc tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư” cho phù hợp với khoản 3 Điều 15, khoản 2 Điều 83.

- Khoản 1 và khoản 2: Có ý kiến đề nghị bổ sung từ "làm việc" vào sau từ "7 ngày”

- Khoản 4, điểm a:

+ Một số ý kiến nhất trí với quy định trong dự thảo luật.

+ Một số ý kiến cho rằng nên cho phép viên chức đang làm công tác giảng dạy pháp luật hành nghề luật sư vì những lý do sau: Góp phần nâng cao chất lượng hành nghề của giới luật sư, sẽ tập trung nguồn lực để thay đổi về chất hoạt động hành nghề của các luật sư. Nâng cao kiến thức thực tiễn của chính các giảng viên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng của việc đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống tư pháp và toàn xã hội. Góp phần bảo vệ tốt hơn lợi ích của khách hàng nói riêng, đảm bảo công bằng và khách quan trong việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội và đòi hỏi các thành phần tham gia tố tụng đều phải cố gắng đào sâu trí tuệ trong quá trình thực hành nhiệm vụ nếu có luật sư là các giảng viên tham gia tố tụng.Với đặc thù nghề nghiệp của các giảng viên luật là thời gian làm việc linh hoạt do vậy vẫn tham gia được các hoạt động tố tụng của luật sư.

7. Về thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư (Điều 18)

-  Khoản 4, điểm d: Đề nghị bỏ cụm từ “hoặc quản chế hành chính” vì  luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã không còn chế định này.

8. Về gia nhập Đoàn luật sư (Điều 20)

- Các ý kiến đều tán thành với việc người được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư mà 2 năm không đăng ký vào đoàn luật sư thì bị thu hồi.

- Khoản 3 và khoản 4: Có ý kiến đề nghị bổ sung từ "làm việc" sau cụm từ "trong thời hạn 7 ngày"

9. Về quyền, nghĩa vụ của luật sư (Điều 21)

- Khoản 4: Có ý kiến đề nghị bỏ quy định "thẻ luật sư có thời hạn 5 năm và được đổi khi hết hạn” vì việc đổi thẻ luật sư gây tốn kém, lãng phí thời gian, công sức. Mặt khác, quản lý luật sư thông qua hoạt động hành nghề của họ, chứ không phải thông qua việc cấp, đổi thẻ.

 - Khoản 1, điểm b: Có ý kiến đề nghị bổ sung từ " cá nhân” vào sau cụm từ " Đại diện cho khách hàng trước”.

- Khoản 2, điểm b: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “có năng lực, trình độ” vào trước cụm từ “trong sạch, vững mạnh”.

10. Về quy định cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư (Điều 27)

- Khoản 2: Có ý kiến đồng ý với dự thảo vì quy định như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan. Có ý kiến đề nghị bỏ việc "cấp chứng nhận về việc tham gia tố tụng của luật sư” vì quy định như vậy đã làm khó cho luật sư khi hành nghề; Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ "thời hạn 3 ngày làm việc” và đề nghị bổ sung vào sau cụm từ "tham gia tố tụng của luật sư” cụm từ "ngay trong ngày làm việc”.

 - Có ý kiến cho rằng, dự thảo luật quy định việc cấp Giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư để tham gia tố tụng là không phù hợp với tinh thần của Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp và gây khó khăn, cản trở việc tham gia tố tụng của luật sư. Do đó, đề nghị nên bỏ quy định cấp Giấy chứng nhận người bào chữa cho luật sư, khi tham gia tố tụng luật sư chỉ cần xuất trình thẻ luật sư, giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư hoặc giấy giới thiệu của Đoàn luật sư đối với những luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và Giấy yêu cầu luật sư của khách hàng để chứng minh tư cách luật sư và tư cách người tham gia tố tụng.

+ Có ý kiến đề nghị thay câu “chậm nhất là 3 ngày làm việc hoặc 24 giờ đối với trường hợp tạm giữ, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ” bằng cụm từ“khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ”.

- Khoản 3, điểm b:

+ Có ý kiến cho rằng quy định Luật sư phải xuất trình : "Giấy yêu cầu luật sư của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc của người khác mà được  người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chấp nhận...." trong thực tế trong thời gian qua khi thực hiện có nhiều vướng mắc. Đề nghị sửa lại như sau: "Giấy yêu cầu luật sư của người thân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo...".

11. Về tổ chức hành nghề luật sư (Điều 32, Điều 39)

+ Có ý kiến đề nghị phải có ý kiến đồng ý của chính danh bị can, bị cáo vì như vậy sẽ thể hiện ý trí của họ.

- Điều 32: Có ý kiến đề nghị nên bỏ công ty luật trách nhiệm hữu hạn trong các loại hình tổ chức Công ty Luật hành nghề luật sư vì loại hình này không phù hợp với tính chất hoạt động cũng như cơ chế chịu trách nhiệm của luật sư.

12. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn luật sư, Liên đoàn luật sư Việt Nam (các điều: 60, 61, 65)

- Điều 39: Có ý kiến cho rằng cần quy định trong dự thảo luật  về quyền của tổ chức hành nghề luật sư đối với người tập sự hành nghề luật sư để  tương xứng với nghĩa vụ của tổ chức này đối với người tập sự hành nghề luật sư quy định tại khoản 9 Điều 40.

- Điều 60 Khoản 3: Có ý kiến cho rằng quy định chức năng, nhiệm vụ của Đoàn Luật sư như không được ban hành Nghị quyết, quyết định, nội quy, quy định… như vậy sẽ gặp khó khăn trong quá trình hoạt động. Đề nghị sửa lại như sau "Đoàn Luật sư ban hành Nghị quyết, quyết định, nội quy...”

 13. Về tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài (Điều 70)

14. Một số vấn đề khác:

- Khoản 2, điểm b: Có ý kiến cho rằng quy định như dự thảo Luật là không hợp lý đối với trường hợp là luật sư Việt nam nhưng hoạt động, làm việc cho Công ty luật nước ngoài tại Việt Nam. Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định về việc luật sư Việt nam nhưng hoạt động, làm việc cho Công ty luật ở nước ngoài.

- Điều 2, Khoản 2: Có ý kiến đề nghị thay từ "giao" bằng từ "quy định"

- Điều 85, Khoản 3: đề nghị bổ sung từ "Bộ trưởng” vào trước cụm từ "Bộ Tư pháp thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư”

(toàn văn Luật Luật sư năm 2006; toàn văn dự thảo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Luật sư)

Lượt xem: 804

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.