Từ thực tiến quản lý nhà nước, việc phải hoàn thiện, thống nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là rất cần thiết.

Luật ban hành văn bản QPPL của UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 đều đang còn hiệu lực pháp luật, nhưng lại có nhiều quy định chưa thống nhất khi áp dụng thực hiện trong hệ thống bộ máy quản lý nhà nước. Bên cạnh đó các văn bản QPPL của Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ cũng còn có những quy định chưa phù hợp, chồng chéo làm cho cấp chính quyền địa phương khó áp dung thực hiện.

Sau khi có Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND năm 2004, việc ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND các cấp đã mang lại nhiều kết quả trong việc kịp thời triển khai thực hiện áp dụng các quy định của pháp luật để xây dựng các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp, khả thi trên các lĩnh vực KT-XH, an ninh, quốc phòng, bảo đảm an sinh xã hội ở địa phương. Đối với thành phố Hà Nội, từ ngày 1/8/2008 đến nay, hàng năm, HĐND Thành phố đều ban hành Chương trình xây dựng Nghị quyết (là văn bản quy phạm pháp luật) ngay từ đầu năm và có sự điều chỉnh kịp thời, phù hợp với tình hình thực tế, đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan liên quan triển khai thực hiện theo kế hoạch.

     Từ năm 2004 đến tháng 12 năm 2012, HĐND Thành phố đã ban hành 92 Nghị quyết, UBND Thành phố ban hành 116 Quyết định, Chỉ thị là văn bản QPPL. Các văn bản QPPL của HĐND và UBND Thành phố ban hành đúng thẩm quyền, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, đúng căn cứ pháp lý; phù hợp với văn bản cấp trên và đặc điểm, tình hình thực tế, điều chỉnh, góp phần thúc đẩy toàn bộ các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đáp ứng được yêu cầu về quản lý nhà nước ở địa phương. Các văn bản QPPL này đều được công khai trên các báo và Công báo của địa phương. Công tác kiểm tra, rà soát, thống kê các Nghị quyết được quan tâm thực hiện tốt.

Ban pháp chế HĐND các cấp thường xuyên tự kiểm tra, rà soát thống kê các Nghị quyết và kiến nghị xử lý nếu phát hiện văn bản có dấu hiệu sai sót tạo sự thống nhất trong hệ thống văn bản của địa phương. Cơ quan Tư pháp các cấp quan tâm tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho  cán bộ pháp chế của địa phương, qua đó góp phần nâng cao năng lực của đội ngũ làm công tác xây dựng pháp luật.

Ngoài những kết quả đạt được thì cũng bộc lộ những khó khăn, vướng mắc, hạn chế trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Nhất là việc Luật ban hành văn bản QPPL của UBND năm 2004 và Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 đều đang còn hiệu lực pháp luật, nhưng lại có nhiều quy định thiếu thống nhất khi áp dụng thực hiện trong hệ thống bộ máy quản lý nhà nước. Bên cạnh đó các văn bản QPPL của Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ cũng còn có những quy định chưa phù hợp, chồng chéo làm cho cấp chính quyền địa phương khó áp dung thực hiện.

Để công tác ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, trong đó đáng chú ý là yêu cầu quản lý của chính quyền địa phương, xin kiến nghị với Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, cơ quan ngang Bộ ở Trung ương một số vấn đề sau:

1.     Kiến nghị với Quốc hội

Hiện nay, việc ban hành văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của các cơ quan Trung ương chịu sự điều chỉnh của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 và việc ban hành văn bản QPPL thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phương chịu sự điều chỉnh của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND năm 2004. Về cơ bản, phạm vi và đối tượng điều chỉnh của 02 Luật này gần giống nhau: Quy định về trình tự thủ tục xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, từ giai đoạn soạn thảo, lấy ý kiến tham gia, thẩm định và ban hành đến các giai đoạn sau khi ban hành như kiểm tra, rà soát hệ thống hoá văn bản. Tuy vậy, việc tồn tại hai Luật song song cùng điều chỉnh một hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực tế trong thời gian qua đã xảy ra  những hạn chế, bất cập và không thống nhất, làm ảnh hưởng đến tính khả thi và hiệu lực thực tế trong quá trình áp dụng. Do đó, đề nghị cần xây dựng Luật ban hành VBQPPL chung cho cả cấp trung ương và chính quyền địa phương; theo đó việc xây dựng ban hành VBQPPL của địa phương được thành một chương riêng, trong đó cần phân định rõ những đặc thù của chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn để đảm bảo việc ban hành VBQPPL phù hợp với cơ chế quản lý đặc thù của từng địa phương.

2. Kiến nghị với Chính phủ:

Đnâng cao chất lượng soạn thảo văn bản nói chung và công tác lấy ý kiến đối tượng tác động của văn bản nói riêng, trước hết cần phải xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế, cán bộ tư pháp làm công tác văn bản có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và có phẩm chất đạo đức. Muốn vậy, đề nghị Chính phủ cần sớm chỉ đạo Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 07 năm 2011 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế. Theo đó, các Sở, ngành chuyên môn thuộc UBND tỉnh, thành phố phải có Phòng Pháp chế với số lượng cán bộ ít nhất là 03 biên chế. Cán bộ pháp chế phải có trình độ cử nhân Luật trở lên và được bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng: Soạn thảo, kiểm tra, rà soát và theo dõi thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc sớm hướng dẫn triển khai thực hiện Nghị định số 55/2011/NĐ-CP sẽ giúp nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành văn bản của địa phương.

Đề nghị Chính phủ sớm có sự chỉ đạo Bộ Tài chính để điều chỉnh quy định về kinh phí hỗ trợ cho công tác ban hành văn bản tại địa phương tại Thông tư liên tịch số 09/2007/TTLT-BTP-BTC cho phù hợp với tình hình thực tế triển khai tại các địa phương. Theo đó, mức chi cho công tác xây dựng văn bản phải đủ để bảo đảm thực hiện các quy trình soạn thảo văn bản. Đồng thời, phải bảo đảm kinh phí cho việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân, lấy ý kiến của chuyên gia, nhà khoa học trong những trường hợp theo quy định cần phải tổ chức lấy ý kiến. Đây chính là cơ sở quan trọng để cơ quan chủ trì soạn thảo chủ động về nguồn kinh phí khi xây dựng kế hoạch soạn thảo văn bản và thực hiện đúng quy trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

3. Kiến nghị với các Bộ, cơ quan ngang bộ:

Đề nghị các cơ quan Trung ương khi ban hành văn bản cần tránh sự chồng chéo, thiếu rõ ràng; thường xuyên rà soát và hệ thống hoá để công bố tính hiệu lực của các văn bản thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý. Mức độ ban hành văn bản khá nhiều từ các cơ quan Trung ương đã làm cho địa phương bị quá tải trong việc triển khai thực hiện thi hành các quy định. Vì vậy, để nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL của địa phương, các cơ quan trung ương khi ban hành văn bản phải chú trọng hơn đến tính khả thi, tính đồng bộ trong các quy định, nhất là các văn bản giữa các bộ, ngành với nhau để cho địa phương thuận lợi hơn trong việc triển khai thực hiện.

Tại điểm d khoản 3 Điều 1 Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP đã quy định trách nhiệm của Bộ Tư pháp “Chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật; Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính”. Trên cơ sở đó, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 01/2011/TT-BNV ngày 19/01/2011 Hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính. Để hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND được nâng cao chất lượng, giải quyết hạn chế trong kỹ thuật lập quy của HĐND các cấp, tránh tình trạng văn bản HĐND sau khi ban hành phải chờ văn bản của UBND ban hành mới được triển khai trên thực tế, đề nghị Bộ Tư pháp sớm ban hành văn bản hướng dẫn về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật, theo đó cần có hướng dẫn cụ thể về thể thức và cách trình bày văn bản đối với văn bản của HĐND, UBND các cấp, cần có quy định đối với những nội dung đã được phân cấp về thẩm quyền cho HĐND quyết định thì văn bản quy phạm pháp luật của HĐND phải quy định trực tiếp, cụ thể những nội dung này./.

Nguyễn Hồng Hợi

Lượt xem: 367

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.