Ủy ban MTTQ TP tổng hợp ý kiến đóng góp về dự thảo Bộ luật Hình sự: Không đồng tình quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

Tổng hợp các ý kiến đóng góp cho thấy, đa số đều nhất trí với tính cấp thiết, phù hợp xu thế chung, yêu cầu và điều kiện của đất nước để bổ sung, sửa đổi và triển khai thực hiện BLHS. Dự thảo BLHS đã bảo đảm tính khoa học, khách quan, có tính kế thừa và phát huy BLHS năm 1999. Tuy vậy, dự thảo còn một số nội dung bất cập, không khả thi, nhiều điều luật còn sử dụng thuật ngữ định tính, có nhiều cách hiểu khác nhau...

Thực hiện chủ trương về việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân vào dự thảo Bộ luật Hình sự (BLHS) sửa đổi, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Thành phố đã tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức. Bên cạnh đó, Ban Thường trực Ủy ban MTTQ TP cũng đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến với sự tham gia của đại diện các cơ quan, đơn vị, các tổ chức thành viên, UB MTTQ các quận, huyện, thị xã; các chuyên gia luật…

Luật sư Nguyễn Hồng Tuyến – Chủ tịch Hội Luật gia Thành phố đóng góp ý kiến

Tổng hợp các ý kiến đóng góp cho thấy, đa số đều nhất trí với tính cấp thiết, phù hợp xu thế chung, yêu cầu và điều kiện của đất nước để bổ sung, sửa đổi và triển khai thực hiện BLHS. Dự thảo BLHS đã bảo đảm tính khoa học, khách quan, có tính kế thừa và phát huy BLHS năm 1999. Tuy vậy, dự thảo còn một số nội dung bất cập, không khả thi, nhiều điều luật còn sử dụng thuật ngữ định tính, có nhiều cách hiểu khác nhau như: “khắc phục cơ bản về hậu quả”; “tích cực hợp tác với cơ quan chức năng”; “lập công lớn”; sử dụng các thuật ngữ chưa được giải thích, ví dụ: Người già, người già yếu, số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn, hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng ...

Về cơ cấu, bố cục dự thảo chặt chẽ, hợp lý nhưng cần sửa đổi bổ sung một số nội dung: Bổ sung vào Chương I điều Giải tích từ ngữ để đảm bảo sự thống nhất khi áp dụng pháp luật và thi hành pháp luật; đổi tên Chương XII: Những quy định đổi với người chưa thành niên phạm tội” thành “Những quy định đối với trẻ em phạm tội” và viết lại chương này cho phù hợp với Dự thảo Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) được Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi; bổ sung tên Chương XXIII: Các tội phạm về chức vụ và tham nhũng và hình sự hóa 12 hành vi tham nhũng (quy định tại Điều 8 Luật Phòng, chống tham nhũng) và các hành vi mua bán người (quy định tại Luật Phòng, chổng mua bán người) để phù hợp với Công ước Quốc tế về phòng, chống tham nhũng và mua bán người mà Việt Nam là thành viên.

Đề nghị xây dựng các tội mới vào Chương XIV: Tội cố ý đưa các chất độc hại vào sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất thực phẩm và thức ăn chăn nuôi gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của con người; Tội cố ý đưa các chất độc hại vào trong chế biến thức ăn phục vụ cho con người gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác; Tội buôn bán các hàng hóa, sản phẩm, thực phẩm phục vụ con người và chăn nuôi mà biết rõ những hàng hóa, sản phẩm, thực phẩm đó có chất độc hại gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng. Sở dĩ phải đưa thêm các hành vi này vào Dự thảo là nhằm cảnh cáo, xử phạt nghiêm khắc những tổ chức, cá nhân coi thường sức khỏe, tính mạng của người dân khi sản xuất, buôn bán những sản phẩm có hàm lượng chất độc hại quá mức cho phép, hoặc trong sản phẩm có các chất độc không được phép sử dụng.

Về ý kiến đóng góp đối với các nội dung cụ thể, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân và loại tội pháp nhân chịu trách nhiệm hình sự. Đa số đồng ý với loại ý kiến thứ 2: Không nên quy định trách nhiệm của pháp nhân tại thời điểm này vì không có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý, cơ sở kinh tế, đi ngược với quan điểm truyền thống của BLHS Việt Nam (cá thể hóa trách nhiệm hình sự); pháp nhân khác cá nhân về sự tồn tại, pháp nhân có thể giải thể, phá sản nên đưa ra hình phạt đối với pháp nhân trở thành hình thức; pháp nhân cũng là do cá nhân đứng ra tổ chức, quản lý và hoạt động, mọi hành vi vi phạm của pháp nhân là do cá nhân gây ra, nếu xử lý pháp nhân và cá nhân về một hành vi là trùng lặp (vi phạm nguyên tắc trong xử lý trách nhiệm hình sự), còn nếu chỉ xử lý pháp nhân mà không xử lý cá nhân là bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh đó, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân rất dễ bị lợi dụng để người có chức vụ, quyền hạn của pháp nhân chạy tội, trốn tránh trách nhiệm hình sự; pháp nhân bị xử lý hình sự còn cán bộ quản lý của pháp nhân này có thể lại thành lập pháp nhân khác để hoạt động, làm cho kỷ cương phép nước không nghiêm.

Các ý kiến đóng góp cũng đồng ý bỏ hình phạt tử hình đối với 07 tội danh. Riêng với tội cướp tài sản, trong thời gian qua các vụ cướp của, giết người ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất nghiêm trọng gây nhức nhối trong xã hội, dư luận nhân dân đòi hỏi cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc và cần thiết, phải có bản án tử hình để răn đe. Về quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về một số tội phạm, nhưng sau khi bị kết án đã khắc phục về cơ bản hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, tích cực hợp tác với các cơ quan chức năng trong việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc lập công lớn (điểm c khoản 3 Điều 39 dự thảo), các ý kiến không đồng ý với quy định không thi hành án tử hình đổi với người bị kết án tử hình về “Tội tham ô tài sản, Tội nhận hối lộ”.

Về quy định không áp dụng và không thi hành án tử hình đối với người bị kết án từ 75 tuổi trở lên (khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 31), các ý kiến tán thành nhưng đề nghị nâng số tuổi xem xét từ đủ 80 tuổi trở lên vì tuổi thọ trung bình của nước ta đã được nâng cao hơn trước; người được coi là thượng thọ, già yếu, được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên theo quy định của Luật Người cao tuổi là 80 tuổi.

Về chuyển đổi hình phạt tiền thành hình phạt tù có thời hạn (khoản 4 Điều 35), các ý kiến đồng ý phương án 2: “Không quy định khoản này” vì: Quy định này ảnh hưởng lớn đến quyền và lợi của người phạm tội khi chấp hành hình phạt tiền, việc quy định chuyển đổi từ hình phạt tiền sang hình phạt tù là trái với tinh thần cải cách tư pháp: Giảm hình thức áp dụng hình phạt tù và mở rộng hình thức áp dụng hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ; quy định như dự thảo có thể sẽ dẫn đến một thực tế có nhiều đối tượng không thể chấp hành nộp phạt hoặc chấp nhận ngồi tù để “trả nợ” vì thấy có lợi hơn cho mình…

Về việc thay thế tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bằng những tội danh cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế. Các ý kiến tán đồng với quy định trong dự thảo. Các ý kiến cũng nhất trí bổ sung trường hợp xử lý hình sự đối với người trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống đối với tội trộm cắp tài sản ở giai đoạn hiện nay; nhưng cần quy định chặt chẽ để tránh áp dụng luật tùy tiện.

Trên cơ sở kết quả tổng kết thực tiễn thi hành BLHS và ý kiến đề xuất của các bộ, ngành, cơ quan, tổ chức hữu quan, dự thảo BLHS (sửa đổi) dự kiến bãi bỏ một số tội danh và bổ sung một sổ tội danh mới. Theo nhiều ý kiến, đề nghị xem xét lại việc bỏ 03 tội là: Tội tảo hôn, Tội kinh doanh trái phép, Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế vì: Hành vi phạm các tội này vẫn diễn ra tương đối phổ biến ở Việt Nam. Bên cạnh đó, hầu hết các ý kiến đồng ý với việc bổ sung 37 tội danh mới như trong dự thảo…

Toàn văn văn bản tổng hợp của Ủy ban MTTQ TP

DƯƠNG CHUNG

Lượt xem: 471

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.