Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Tại phiên họp lần này, Ủy ban thường vụ Quốc hội tập trung xem xét 6 vấn đề gồm: Việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật hay giám sát văn bản; về xem xét văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; về chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn; về hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; về giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; về giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Sáng 11/8, tiếp tục chương trình phiên họp thứ 40, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về một số vấn đề lớn còn có ý kiến khác nhau của dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Tại phiên họp lần này, Ủy ban thường vụ Quốc hội tập trung xem xét 6 vấn đề gồm: Việc giám sát văn bản quy phạm pháp luật hay giám sát văn bản; về xem xét văn bản có dấu hiệu trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; về chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn; về hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; về giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân; về giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.

Các đại biểu thảo luận tại Phiên họp

Thảo luận tại phiên họp, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho rằng Quốc hội mới thông qua Luật tổ chức chính quyền địa phương do đó những nội dung trong luật này liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cần bám sát với các quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương. Bên cạnh đó, những nội dung về trình tự, thủ tục, quyền hạn chất vấn, trả lời chất vấn, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân không được đề cập trong Nghị quyết 85/2014 của Quốc hội do đó Luật cần phải tăng cường.

Về hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phân tích, lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là hai hoạt động hoàn toàn khác nhau về quyền lực thực hiện, trách nhiệm, hiệu lực pháp lý và quy trình. Vì vậy, Chủ tịch Quốc hội đề nghị, ban soạn thảo xem xét quy định rõ ràng về hai hoạt động này trong Luật.

Về chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn, Thường trực Ủy ban Pháp luật cho rằng, để bảo đảm tính khả thi, phù hợp với điều kiện hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân ở nước ta và phù hợp với quy định tại Điều 80 của Hiến pháp, quy định như dự thảo Luật (lựa chọn nhóm vấn đề chất vấn, người bị chất vấn theo hướng Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét trên cơ sở cân nhắc một cách toàn diện các vấn đề có liên quan) là phù hợp. Dự thảo cũng đã sửa đổi, bổ sung quy trình chất vấn và trả lời chất vấn cụ thể hơn để phù hợp với quy định của Hiến pháp, nếu đại biểu chưa đồng ý với việc trả lời chất vấn thì tiếp tục chất vấn lại về nội dung đã chất vấn; người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời chất vấn mà không được ủy quyền cho người khác trả lời thay.

Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn cho rằng, việc lựa chọn vấn đề chất vấn cần ưu tiên những ý kiến kiến nghị của cử tri, những vấn đề bức xúc gửi đến kỳ họp, những vấn đề xã hội quan tâm rồi mới đến phiếu chất vấn của đại đại biểu Quốc hội. 

Phó chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn đề nghị, trong quá trình chất vấn và giám sát có thể sử dụng hình ảnh, video để minh họa cho các vấn đề chất vấn. Những điều này đã được nhiều địa phương thực hiện hiệu quả như TP. Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng cũng cho rằng điều này sẽ rất tốt khi sử dụng các tài liệu, phim ảnh hoặc phương tiện điện tử để báo cáo và minh họa cho việc hoạt động giám sát của các đoàn và đại biểu Quốc hội.

Đa số các đại biểu cũng tán thành với quy định người bị chất vấn phải trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội hoặc tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong trường hợp cần thiết Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho trả lời bằng văn bản.

Về giám sát văn bản hay giám sát văn bản quy phạm pháp luật, nôi dung này còn nhiều ý kiến khác nhau tại phiên họp. Theo Trưởng ban Dân nguyện Nguyễn Đức Hiền, việc giám sát ở đây là giám sát việc ban hành văn bản. Ban hành văn bản không chỉ có văn bản quy phạm pháp luật, mà có thể có tất cả những loại văn bản khác.

Tuy nhiên, theo Phó chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng, việc giám sát văn bản nếu như tổng kết kể cả khóa XI, khóa XII và khóa XIII cũng là một lĩnh vực còn có những mặt hạn chế, cho nên cần tăng cường hoạt động này. Để có bước đi và tính khả thi trong quá trình thực hiện quy định của luật, trước mắt sẽ thực hiện giám sát văn bản quy phạm pháp luật. Đối với những lĩnh vực nào cần thiết trong hoạt động giám sát của Quốc hội, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có quyền yêu cầu cung cấp tài liệu, nghiên cứu và kết luận những vấn đề có liên quan đến những văn bản đó. Như vậy, sẽ đảm bảo vừa sức và cũng phù hợp với hoạt động của các cơ quan của Quốc hội.

Về giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, Thường trực Ủy ban Pháp luật đề nghị trong lần sửa đổi này sẽ tiếp tục kế thừa pháp luật hiện hành quy định Thường trực Hội đồng nhân dân ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã đều có thẩm quyền giám sát. Song, về phạm vi giám sát cụ thể của Thường trực Hội đồng nhân dân từng cấp sẽ có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thẩm quyền đã được quy định trong Luật tổ chức chính quyền địa phương vừa được Quốc hội thông qua và phù hợp với vị trí, vai trò và cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực Hội đồng Nhân dân ở từng cấp.

Trên cơ sở ý kiến thảo luận tại phiên họp của Ủy ban thường vụ Quốc hội, dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân sẽ tiếp tục được hoàn thiện để lấy ý kiến tại Hội nghị đại biểu Quốc hội chuyên trách và ý kiến tại các địa phương. Dự kiến, dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân sẽ được trình Quốc hội xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 10 tới.

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 456

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.