Vai trò của HĐND Thành phố trong kiểm soát quyền lực của bộ máy chính quyền các cấp khi thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một yêu cầu cần thiết trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng ở Việt Nam hiện nay.

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một yêu cầu cần thiết trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng ở Việt Nam hiện nay. Khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Nguyên tắc này đã tạo cơ sở pháp lý cho cơ chế kiểm soát quyền lực đối với bộ máy nhà nước dựa trên việc phân công một cách rõ ràng các nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, tạo cơ sở cho cơ chế kiểm soát quyền lực, điều này đặc biệt có ý nghĩa trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay.

Trong tổ chức của chính quyền địa phương ở nước ta, Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, có hai chức năng quan trọng là quyết định và giám sát. Trong đó, chức năng giám sát của HĐND được thể hiện ở những nội dung: (1) Giám sát của HĐND nhằm bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân (2) Giám sát của HĐND bảo đảm việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND (3) Giám sát của HĐND nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước ở địa phương (4) Giám sát của HĐND nhằm phát hiện và ngăn chặn tình trạng lạm dụng quyền lực, góp phần tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Như vậy, có thể thấy, bằng việc thực hiện chức năng giám sát, HĐND thể hiện vai trò cơ bản trong cơ chế kiểm soát quyền lực thực thi chính sách, pháp luật ở địa phương. Chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân là một trong các định chế quan trọng bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương đạt hiệu quả, minh bạch và trung thực. 
1. Vai trò của HĐND Thành phố trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy chính quyền các cấp trong điều kiện thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị
Thực hiện các quy định của Luật, trong những năm qua HĐND thành phố Hà Nội đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động; qua đó thực hiện tốt việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy chính quyền các cấp, đặc biệt trong điều kiện thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội. Thể hiện ở một số nội dung sau:
1.1. Tham mưu, xây dựng các giải pháp nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Hà Nội, qua đó thực hiện tốt vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.
Với phương châm hoạt động “Đổi mới - Sâu sát - Khoa học - Hiệu quả”; thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14 ngày 28/11/2019 của Quốc hội về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội; từ đầu nhiệm kỳ 2021-2026, Đảng đoàn, Thường trực HĐND Thành phố đã tham mưu Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Đề án số 15-ĐA/TU về “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt độnxg của Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2026 gắn với thực hiện thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị và củng cố chính quyền nông thôn tại thành phố Hà Nội” nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, ngày càng khẳng định rõ vị trí, vai trò trong hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô. Đề án đưa ra 5 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp. Trong đó, giải pháp trọng tâm là tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với tổ chức bộ máy và hoạt động của HĐND các cấp Thành phố; giải pháp cơ bản là đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND các cấp theo hướng thực chất, hiệu quả, trong đó xác định rõ vai trò, trách nhiệm, tính chuyên nghiệp của Thường trực, các Ban, các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND trong hoạt động của HĐND là mấu chốt của mọi hoạt động. 
Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện Đề án số 15/ĐA-TU của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, các mục tiêu, chỉ tiêu của Đề án đã được HĐND các cấp nỗ lực triển khai, cơ bản hoàn thành và bước đầu đã có chuyển biến rõ nét. HĐND các quận, thị xã (không tổ chức HĐND phường) đã chủ động thực hiện những nhiệm vụ thuộc thẩm quyền, đồng thời tăng cường giám sát, mở rộng hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đối thoại trực tiếp để bảo đảm vai trò đại diện của nhân dân trong điều kiện thực hiện mô hình chính quyền đô thị theo Nghị quyết 97 của Quốc hội. HĐND các huyện, xã tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng các hoạt động kỳ họp, chất vấn, giải trình, giám sát; tăng cường việc tổng hợp, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các nghị quyết, kết luận, kiến nghị bảo đảm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát. Vai trò của HĐND trong bộ máy chính quyền ở địa phương tiếp tục được khẳng định, nâng cao. 
1.2. Thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước qua việc ban hành các cơ chế, chính sách, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Với chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, HĐND ban hành các cơ chế, chính sách, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, làm cơ sở để UBND và chính quyền các cấp trong việc thực hiện các quy định của pháp luật cũng như các cơ chế, chính sách cho sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an sinh xã hội, an ninh quốc phòng của Thủ đô.
Để đảm bảo tính khoa học, bài bản và thống nhất trong tổ chức thực hiện; Thường trực HĐND Thành phố đã ban hành kế hoạch định hướng xây dựng Nghị quyết của HĐND Thành phố cả nhiệm kỳ 2021-2026 và kế hoạch xây dựng Nghị quyết hàng năm để đôn đốc UBND Thành phố trong việc xây dựng, trình HĐND Thành phố ban hành nghị quyết.  
Bên cạnh đó, HĐND Thành phố đã ban hành nhiều nghị quyết làm cơ sở pháp lý quan trọng để chính quyền các cấp triển khai thực hiện như: Nghị quyết về phân cấp quản lý nhà nước một số lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội; nghị quyết phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách Thành phố; nghị quyết về biện pháp đẩy nhanh tiến độ đầu tư, tập trung xử lý các dự án vốn ngoài ngân sách có sử dụng đất chậm triển khai trên địa bàn thành phố Hà Nội….Đây là những căn cứ quan trọng để HĐND Thành phố thực hiện tốt việc kiểm soát quyền lực và giám sát triển khai thực hiện, tạo tính hệ thống, thống nhất trong công tác quản lý nhà nước của chính quyền các cấp.
1.3. Hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, các Tổ đại biểu HĐND Thành phố bảo đảm cho hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương đạt hiệu quả, minh bạch và trung thực. 
Trong những năm qua, hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, các Tổ đại biểu HĐND Thành phố được thực hiện bài bản, thiết thực, hiệu quả trên cơ sở tuân thủ các quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND và Hướng dẫn số 594 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; cùng với sự vận dụng sáng tạo, linh hoạt phù hợp với tình hình thực tiễn và đặc điểm của thành phố Hà Nội. Điều làm nên hiệu quả trong hoạt động giám sát của HĐND Thành phố trong thời gian qua là xác định đúng vấn đề, đúng trọng tâm, nội dung, đối tượng cần giám sát; không để trùng lắp về nội dung, thời gian, đối tượng, địa điểm; giám sát, tái giám sát đến cùng; tổ chức giám sát công khai, sát dân, sát cơ sở, có kết hợp giữa giám sát chung với giám sát thường xuyên, giữa giám sát qua văn bản với đi giám sát thực tế ở cơ sở, trong đó có giám sát cấp thực thi ở dưới cấp sở ngành, quận, huyện...Đặc biệt, trong điều kiện đặc điểm Hà Nội thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14 của Quốc hội, Thường trực HĐND tiếp tục chỉ đạo thực hiện nhiều đổi mới trong công tác giám sát nhằm tăng cường, mở rộng hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các Tổ đại biểu HĐND Thành phố và xuống cơ sở, nhất là ở các địa bàn không tổ chức HĐND phường như: đẩy mạnh phối hợp giữa các Ban HĐND, giữa hoạt động giám sát của đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội với giám sát của Thường trực HĐND Thành phố, phối hợp giữa Tổ đai biểu và Thường trực HĐND quận, thị xã đối với các lĩnh vực có cùng đối tượng giám sát; đẩy mạnh giám sát trực tiếp tới UBND xã, phường, thị trấn, các cơ quan đơn vị trực thuộc sở, ban, ngành Thành phố, kiểm tra, giám sát một số công trình, dự án cụ thể. Kết quả giám sát, khảo sát được sử dụng làm căn cứ để chất vấn, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân (từ cán bộ, công chức cấp Thành phố đến cán bộ, công chức cấp xã và doanh nghiệp) tại các phiên chất vấn trong kỳ họp HĐND, phiên giải trình của Thường trực HĐND; là căn cứ để xác định những giải pháp, lộ trình khắc phục, xử lý tồn tại, hạn chế, vướng mắc trong quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền các cấp. Đồng thời, Thường trực HĐND Thành phố yêu cầu phải đổi mới hình thức và nâng cao chất lượng, số lượng giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Tổ đại biểu HĐND quận, thị xã đối với hoạt động của UBND, Chủ tịch UBND phường đặc biệt đối với các địa phương không tổ chức HĐND phường; yêu cầu các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND quận, thị xã chủ động phối hợp với Ủy ban MTTQ cùng cấp và Ủy ban MTTQ tại các phường trong việc giám sát triển khai thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBND và các cơ quan chuyên môn tại quận, thị xã và UBND, Chủ tịch UBND phường, hằng năm xây dựng kế hoạch để tổ chức ít nhất 02 cuộc giám sát chuyên đề... Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND Thành phố đã tổ chức được 68 đợt giám sát, khảo sát chuyên đề; chất vấn 10 nội dung tại các kỳ họp của HĐND Thành phố; Thường trực HĐND Thành phố tổ chức 01 phiên chất vấn và 03 phiên giải trình. 
Kết thúc các đợt giám sát, HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND đều ban hành báo cáo kết quả giám sát, khảo sát và được công bố công khai, gửi tới UBND Thành phố và các đơn vị - đối tượng giám sát để nghiên cứu, tiếp thu và triển khai thực hiện, đồng thời được đăng trên Trang thông tin điện tử của HĐND Thành phố để cử tri và Nhân dân theo dõi, giám sát. Quá trình theo dõi việc giải quyết các kết luận giám sát, tái giám sát tiếp tục được chú trọng, được phân công, giao theo từng lĩnh vực tới lãnh đạo chuyên trách các Ban HĐND, Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố chịu trách nhiệm theo dõi, tổng hợp kết quả thực hiện các kiến nghị sau giám sát. Có văn bản đôn đốc, nhắc nhở nếu chậm giải quyết hoặc đưa vào nội dung chất vấn tại kỳ họp, phiên giải trình của Thường trực HĐND Thành phố. 
Nhờ những nỗ lực ấy, thời gian qua, hoạt động giám sát của HĐND đối với UBND Thành phố và bộ máy chính quyền các cấp ngày càng được nâng cao, bảo đảm quyền thực thi pháp luật và thực hiện chức năng quản lý các lĩnh vực đời sống xã hội của bộ máy chính quyền các cấp, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn địa phương. Cũng thông qua hoạt động giám sát, nhiều khó khăn, hạn chế trong các lĩnh vực trên địa bàn thành phố đã được tập trung chỉ đạo, khắc phục có hiệu quả, được nhân dân ghi nhận.
1.4. Kiểm soát quyền lực thông qua hoạt động tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân, kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri
Tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân, kết quả giải quyết kiến nghị của cử tri là một trong những hình thức để Thường trực HĐND, các đại biểu HĐND nắm bắt tình hình bộ máy chính quyền các cấp triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, các quy định của Trung ương và Thành phố, cũng như việc giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống dân sinh. Thực hiện các quy định của Luật, Thường trực HĐND Thành phố đã tổ chức để các vị đại biểu HĐND Thành phố tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp thường lệ và tiếp công dân tại các đơn vị bầu cử theo đúng quy định. Các đồng chí lãnh đạo HĐND Thành phố và các vị đại biểu HĐND Thành phố đã tham dự đầy đủ các buổi tiếp xúc cử tri, tiếp công dân; cung cấp tới cử tri và công dân các thông tin quan trọng về tình hình kinh tế - xã hội của Thành phố, đồng thời tiếp thu ý kiến phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, đơn thư kiến nghị của công dân. 
Trong điều kiện thực hiện thí điểm mô hình chính quyền đô thị, tại các nơi không tổ chức HĐND phường; Thường trực HĐND Thành phố chỉ đạo các Ban, các Tổ đại biểu, đại biểu HĐND Thành phố và quận duy trì tiếp thu các ý kiến, kiến nghị của cử tri và Nhân dân; các thông tin nổi bật trên các cơ quan thông tấn báo chí, dư luận xã hội liên quan đến các chủ trương chính sách, công tác chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền, các vấn đề dân sinh bức xúc... Qua đó, toàn bộ các ý kiến, kiến nghị của cử tri đã được tổng hợp đầy đủ, chuyển tới UBND Thành phố và các cơ quan có thẩm quyền để báo cáo trả lời, giải quyết cụ thể; được xem xét, chuyển tải thành các nội dung phục vụ chất vấn, giải trình, giám sát của HĐND Thành phố. Đồng thời, tổng hợp thành cơ sở dữ liệu để phục vụ các hoạt động kỳ họp, tiếp xúc cử tri, thẩm tra, giám sát theo thẩm quyền, đảm bảo đúng vai trò đại diện cho quyền lợi, ý chí của cử tri và Nhân dân trên địa bàn.
2. Bài học kinh nghiệm
Từ thực tiễn hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội thời gian qua, để tiếp tục đảm bảo và phát huy vai trò của HĐND Thành phố trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy chính quyền các cấp; HĐND Thành phố rút ra một số bài học kinh nghiệm sau:
- Sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc, định hướng cho công tác hoạt động của HĐND đạt hiệu quả. 
- Chủ động và không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của HĐND theo hướng sâu sát, hiệu quả, vì dân; thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, năng lực hoạt động của HĐND; phát huy vai trò, trách nhiệm, tính chủ động của Thường trực HĐND các Ban, các Tổ đại biểu HĐND. 
- Tập trung chỉ đạo, điều hành giải quyết triệt để, có hiệu quả những kiến nghị chính đáng của cử tri, thẳng thắn đối thoại về những vấn đề còn bất cập, chưa được giải quyết. Kết hợp tốt giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp để HĐND nâng cao quyền hạn của mình và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Gần gũi, gắn bó mật thiết với Nhân dân, tôn trọng lắng nghe, phản ánh đầy đủ ý chí, nguyện vọng của Nhân dân là nhân tố quan trọng bảo đảm cho HĐND có những quyết sách đúng đắn, phù hợp thực tiễn góp phần nâng cao được uy tín, vai trò của HĐND, thu hút được sự quan tâm, ủng hộ, đóng góp ý kiến xây dựng và tăng cường niềm tin của cử tri, của Nhân dân đối với HĐND.
3. Kiến nghị, đề xuất
Với chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Luật, HĐND đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy chính quyền các cấp. Thực tế trong những năm qua, HĐND thành phố Hà Nội đã thực hiện tương đối tốt vai trò này và khẳng định vị trí vai trò trong hệ thống chính trị ở địa phương. Tuy nhiên để HĐND thực hiện tốt hơn nữa việc kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy chính quyền các cấp cần tiếp tục có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ quyền hạn và những điều kiện để đảm bảo HĐND hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Từ thực tế hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội thời gian qua, xin được kiến nghị, đề xuất một số nội dung như sau:
1. Hiện nay Quốc hội đang thảo luận về Luật Thủ đô (sửa đổi), trong đó nhiều nội dung quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐND, Thường trực HĐND; tiếp tục kiến nghị giữ nguyên đề xuất tại khoản 4 Điều 9 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND Thành phố Hà Nội. Theo đó, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương thì trong thời gian HĐND Thành phố không họp, HĐND Thành phố giao Thường trực HĐND Thành phố thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến quyết định các biện pháp để giải quyết các công việc đột xuất, khẩn cấp, quyết định điều chỉnh chủ trương đầu tư đối với các dự án đầu tư công và quyết định việc hỗ trợ cụ thể căn cứ vào dự toán ngân sách hằng năm…
Thực tế giữa hai kỳ họp HĐND có nhiều nhiệm vụ, công việc đột xuất, phát sinh cần phải giải quyết, trong đó có nhiều nội dung liên quan đến tổ chức điều hành của bộ máy chính quyền các cấp, trong khi đó hiện nay các nhiệm vụ, quyền hạn của Thường trực HĐND mới chỉ được thể chế hóa trong các nhiệm vụ chủ yếu để phục vụ cho kỳ họp của HĐND, phục vụ các hoạt động giám sát của HĐND. Vì vậy việc quy định thêm nhiệm vụ, quyền hạn cho Thường trực HĐND nhằm đảm bảo tính liên tục, thống nhất của HĐND trong kiểm soát quyền lực nhà nước đối với bộ máy chính quyền các cấp.
2. Bộ máy chính quyền đô thị của thành phố Hà Nội ở cấp quận, huyện, xã, thị trấn gồm HĐND và UBND, vì vậy việc kiểm sát quyền lực của bộ máy chính quyền các cấp còn thể hiện qua việc HĐND, Thường trực HĐND cấp trên giám sát HĐND, Thường trực HĐND cấp dưới trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật; trong khi đó các quy định của Luật chưa thể hiện rõ nội dung này. Vì vậy, đề nghị bổ sung trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND nội dung quy định về việc HĐND, Thường trực HĐND cấp trên giám sát HĐND, Thường trực HĐND cấp dưới trong việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của luật; bổ sung quy định cụ thể hơn về việc HĐND, Thường trực HĐND giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan. Đồng thời quy định về cơ chế xử lý các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật của các chủ thể thông qua hoạt động giám sát.
3. Vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước của HĐND đối với bộ máy chính quyền các cấp còn phải được thể hiện ở kết quả thực hiện của các cơ quan đối với những kết luận của HĐND sau kiểm tra, giám sát. Nội dung này cũng đã được đề cập đến trong Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND và một số văn bản quy định khác; tuy nhiên hiệu quả thực hiện chưa cao. Vì vậy, để khẳng định rõ hơn vai trò và tăng cường hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của HĐND đối với bộ máy chính quyền các cấp; đề nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu bổ sung các quy định, chế tài đối với các cá nhân, tổ chức cố tình không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc kéo dài thời gian thực hiện các yêu cầu, kiến nghị của các Đoàn giám sát của HĐND trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND và quy định liên quan đến hoạt động của HĐND./.

Lượt xem: 16110

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.