Xây dựng pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm của toàn hệ thống chính trị

Tờ trình dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND nêu rõ, để kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hóa các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội mới được Quốc hội thông qua, đồng thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật tổ chức HĐND và UBND hiện hành để ban hành một đạo luật chung về hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND là cần thiết.

Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII, sáng 21/5, các đại biểu làm việc tại Hội trường, nghe Tờ trình về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2016, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII và năm 2015; Chính phủ Báo cáo về Điều 60 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014; Tờ trình dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi).

Cần bảo đảm chất lượng và tiến độ chuẩn bị các dự án

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý trình bày Tờ trình về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội năm 2016, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh khóa XIII và năm 2015.

Đánh giá tình hình thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh từ tháng 6/2014 đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy thời gian qua, Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan, tổ chức hữu quan đã có nhiều cố gắng trong việc xây dựng luật, pháp lệnh, góp phần nâng cao chất lượng cũng như tiến độ chuẩn bị các dự án. Công tác xây dựng pháp luật đã có những chuyển biến tích cực, cơ bản đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Việc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã có chuyển biến tích cực hơn.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì việc lập, triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội vẫn còn những hạn chế kéo dài, chậm được khắc phục như số lượng các dự án đề nghị điều chỉnh, bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh còn nhiều; chất lượng của một số dự án luật còn hạn chế như: tình trạng “tồn đọng” văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh vẫn còn nhiều

Tờ trình nêu rõ Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự kiến bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 gồm năm dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết và dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 gồm 31 dự án luật, hai dự án pháp lệnh, một dự án nghị quyết.

Để bảo đảm tính khả thi của Chương trình năm 2016, tránh bị điều chỉnh quá nhiều, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị phải cân nhắc thận trọng, xác định rõ quan điểm, căn cứ lập dự kiến Chương trình, xem xét kỹ sự cần thiết ban hành, phạm vi, đối tượng điều chỉnh, những nội dung cơ bản của từng dự án; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa các cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra, tăng cường trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan thẩm tra, cùng với việc bảo đảm các điều kiện cần thiết cũng như bố trí thời gian phù hợp để Quốc hội xem xét, thông qua.

Trong năm 2016 cần tiếp tục xác định xây dựng pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm của toàn hệ thống chính trị, trong đó tập trung vào việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản pháp luật để thể chế hóa các nghị quyết của Đảng và tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, Ủy thường vụ Quốc hội đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan thi hành nghiêm chỉnh Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức thực hiện tốt các giải pháp đã được đề ra trong các Nghị quyết của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; tiếp tục tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc soạn thảo, thẩm tra, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội để bảo đảm chất lượng và tiến độ chuẩn bị các dự án...

Quy định thống nhất về hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử

Tờ trình dự án Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân nêu rõ, để kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, thể chế hóa các quy định liên quan đến hoạt động giám sát trong Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội mới được Quốc hội thông qua, đồng thời khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử thì việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định về giám sát trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hiện hành để ban hành một đạo luật chung về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là cần thiết.

Việc xây dựng dự án Luật đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; cụ thể hóa các quy định mới của Hiến pháp liên quan đến hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Đồng thời tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; bảo đảm sự thống nhất, khoa học trong việc xác định đối tượng, phạm vi, hình thức, thẩm quyền, trình tự giám sát của từng chủ thể giám sát; bảo đảm quyền, trách nhiệm của chủ thể giám sát, của đối tượng chịu sự giám sát; phát huy vai trò của giám sát trong việc góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước.

Dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được xây dựng để quy định một cách thống nhất về hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử, trong đó, không chỉ xác định rõ thẩm quyền, phạm vi giám sát của từng chủ thể mà còn tăng cường sự phối hợp trong quá trình tiến hành hoạt động giám sát nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và tránh sự chồng chéo, trùng lặp. Do vậy, bên cạnh việc rà soát sửa đổi, bổ sung các quy định để thể chế hóa các văn kiện của Đảng, cụ thể hóa các quy định mới của Hiến pháp, dự thảo đã bổ sung những nội dung được đặt ra trong thực tiễn, sửa đổi các quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội hiện hành, Chương III của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2003), đồng thời, pháp điển hóa các quy định về hoạt động giám sát trong các nội quy, quy chế hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân để khi Luật mới được ban hành sẽ sớm đi vào cuộc sống mà không phải chờ sửa đổi các văn bản khác có liên quan hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành. Dự thảo Luật được thiết kế gồm 5 chương với 94 điều.

Thẩm tra dự án Luật, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội tán thành với kết cấu, bố cục của dự thảo Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát để bổ sung các điều kiện bảo đảm hoạt động giám sát nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Thảo luận dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi)

Thời gian còn lại của phiên làm việc, các đại biểu Quốc hội t hảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi). Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội tán thành với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội .

Bàn về Ban công tác Mặt trận, vẫn còn hai loại ý kiến khác nhau. Theo đại biểu Phạm Đức Châu (Quảng Trị) không nên luật hóa mô hình Ban công tác Mặt trận ở thôn, ấp, bản, làng... Ban công tác Mặt trận không phải là một cấp trong hệ thống tổ chức của Mặt trận mà chỉ là phương thức tổ chức trong nội bộ Mặt trận ở cơ sở. Đại biểu đề nghị không quy định vấn đề này trong Luật mà để quy định trong Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Quan điểm khác, theo đại biểu Trần Thị Dung (Điện Biên) nên quy định về Ban công tác Mặt trận trong Luật. Đại biểu cho rằng tuy Ban công tác Mặt trận không phải là một cấp trong hệ thống tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưng hiện nay đang được tổ chức rộng khắp và hoạt động ở các địa phương phát huy hiệu quả. V iệc luật hóa mô hình này nhằm tạo cơ sở pháp lý đổi mới phương thức công tác của Mặt trận trong giai đoạn hiện nay theo phương châm hướng về cơ sở, tới khu dân cư.

Về vấn đề này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá Ban công tác Mặt trận là cánh tay nối dài, là phương thức để triển khai hoạt động của Mặt trận ở cấp xã hiệu quả hơn. Do đó, cần được ghi nhận trong Luật để tạo cơ sở pháp lý cho Ban này hoạt động.

Thảo luận về hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Chương 5), nhiều ý kiến tán thành sự cần thiết phải quy định trong dự thảo Luật về nội dung này. Tuy nhiên, cần làm rõ tính đặc thù trong hoạt động giám sát của Mặt trận; làm rõ tính chất giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là “mang tính Nhân dân;” quy định cụ thể trình tự, thủ tục thực hiện giám sát, giá trị pháp lý của kết luận, kiến nghị giám sát; trách nhiệm, chế tài đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong việc thực hiện k ết luận, kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sau giám sát.

Các đại biểu Quốc hội đã cho ý kiến cụ thể về các nội dung hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Chương 6); nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam..../.

Quỳnh Hoa/TTXVN

Lượt xem: 355

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.