Ý kiến đóng góp của đại biểu Đoàn ĐBQH TP Hà Nội vào dự án Luật An toàn, vệ sinh lao động

Phiên thảo luận sáng 25/5 tại Hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã góp ý về chính sách của nhà nước về an toàn vệ sinh lao động (Điều 4).

Phiên thảo luận sáng 25/5 tại Hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật An toàn, vệ sinh lao động, đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã góp ý về chính sách của nhà nước về an toàn vệ sinh lao động (Điều 4).

Đại biểu Nguyễn Thị Hồng Hà phát biểu tại Hội trường

Đại biểu Hồng Hà đồng tình với giải trình của Ủy ban thường vụ Quốc hội về chính sách bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, trong đó chính sách bảo hiểm tai nạn lao động nghề nghiệp cho nhóm lao động không theo hợp đồng lao động, dự thảo Luật chỉ quy định nguyên tắc chung về chính sách bảo hiểm tai nạn lao động theo hình thức tự nguyện, chưa quy định chính sách bảo hiểm bệnh nghề nghiệp vì việc xác định và tổ chức thực hiện chế độ bảo hiểm bệnh nghề nghiệp cho người lao động ở khu vực này là khó khả thi.

Đại biểu đề nghị giao cho Chính phủ ở quyết định cụ thể. Tuy nhiên, nếu thể hiện vào khoản 5 Điều 4, thì chính sách chung của Nhà nước về bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp lại bị thu hẹp nhiều, không phù hợp với chủ trương mở rộng các đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp, kể cả bắt buộc và tự nguyện. Đại biểu đề nghị nội dung này nên thể hiện như khoản 6 Điều 4 của dự thảo Luật xin ý kiến trong kỳ 8 thì phù hợp hơn.

Đại biểu đề nghị sửa lại khoản 5, Điều 4 của dự thảo Luật như sau: “Có chính sách phát triển, mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; xây dựng cơ chế đóng, hưởng linh hoạt theo ngành nghề, lĩnh vực nhằm phòng ngừa, giảm thiểu, khắc phục rủi ro cho người lao động.”, đại biểu cho rằng, như vậy cơ chế đóng hưởng của bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định linh hoạt với những ngành nghề có nguy cơ cao xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thì mức đóng góp phải nhiều hơn, còn những ngành nghề ít có nguy cơ thì mức đóng có thể thấp hơn, cũng là thể hiện sự công bằng và chia sẻ rủi ro trong bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Hơn nữa, để khuyến khích những cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện tốt công tác an toàn vệ sinh lao động, không để xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong một thời gian nhất định thì có cơ chế khuyến khích cụ thể, đồng thời khuyến khích tăng cường các biện pháp, điều kiện để đảm bảo an toàn vệ sinh lao động khác.

Góp ý về quyền và nghĩa vụ về an toàn, vệ sinh lao động của người lao động (Điều 6), đại biểu Bùi Thị An đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung quy định cụ thể về phương thức thông tin, thời điểm thông tin cho người lao động về các thiết bị, yếu tố nguy hiểm có hại.... và đối với bệnh nghề nghiệp đặc biệt mang tính chất tích tụ như liên quan đến Amiăng, chì… không phải một ngày, hai ngày, không phải một năm, hai năm mà là 10 năm, 15 năm sau, 20 năm sau nó mới bắt đầu phát bệnh ung thư.

Về quyền và nghĩa vụ về an toàn vệ sinh lao động của người sử dụng lao động (Điều 7), đại biểu Trần Thị Quốc Khánh cho rằng, “tại điểm a khoản 2 quy định: Người sử dụng lao động có nghĩa vụ xây dựng và tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc là chưa rõ, vì chưa thể hiện được sự phối hợp với chính quyền địa phương hay cơ quan? Hay tự mình phải làm mà không có sự phối hợp. Chưa rõ ở đây là nơi làm việc này là nơi nào? Là nơi trụ sở công ty hay là nơi công trường tổ chức thi công. Chưa rõ nữa là bảo đảm an toàn lao động này có cho những đối tượng nào? sẽ rất khó trong quá trình vận dụng, áp dụng luật”. Đại biểu đề nghị nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định này như sau: "Người sử dụng có nghĩa vụ chủ động phối hợp với cơ quan chính quyền địa phương xây dựng, tổ chức thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn vệ sinh lao động cho người lao động và người khác tại nơi lao động".

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 405

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Quốc hội thảo luận về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp

Hoạt động tại các kỳ họp 1 ngày trước

Chiều 23/6/2025, tiếp tục chương trình kỳ họp thứ chín, các đại biểu Quốc hội thảo luận ở tổ về Dự án Luật Tình trạng khẩn cấp; Dự án Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù; Dự án Luật Dẫn độ. Đồng chí Phạm Thị Thanh Mai, Thành ủy viên, Phó Chủ tịch HĐND Thành phố, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì buổi thảo luận tại tổ Hà Nội. Cùng dự có các vị đại biểu Quốc hội thuộc Đoàn ĐBQH Thành phố. Quang cảnh buổi thảo luận tại tổ Hà Nội Thảo luận tại tổ, đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, vì đây là yêu cầu khách quan xuất phát từ thực tiễn và phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong bối cảnh thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường và những thách thức an ninh ngày càng phức tạp, hệ thống pháp luật hiện hành chủ yếu dựa trên Pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp năm 2000 đã không còn phù hợp. Đại biểu Nguyễn Thị Lan phát biểu thảo luận Quan tâm đến nguyên tắc hoạt động trong tình trạng khẩn cấp (Điều 3), đại biểu Nguyễn Thị Lan, Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam cho rằng, dự thảo đã quy định rõ các nguyên tắc cốt lõi, bám sát Hiến pháp 2013 và pháp luật quốc tế; trong đó, có nguyên tắc hạn chế quyền con người trong tình trạng khẩn cấp theo hướng cần thiết và không phân biệt đối xử; quy định rõ việc miễn trừ trách nhiệm để khuyến khích quyết định kịp thời của người thực thi công vụ. Tuy nhiên, để hoàn thiện Dự thảo Luật, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét bổ sung và làm rõ hơn về nguyên tắc hạn chế quyền con người, quyền công dân không chỉ “thật sự cần thiết” mà còn phải “tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tình trạng khẩn cấp” để bảo đảm đúng tinh thần Hiến pháp 2013 và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đồng thời, bổ sung nguyên tắc bảo đảm công khai, minh bạch thông tin và tăng cường vai trò giám sát của Quốc hội, MTTQ Việt Nam và các tổ chức nhân quyền trong quá trình áp dụng biện pháp khẩn cấp. Đặc biệt, cần quy định chặt chẽ hơn các điều kiện miễn trừ trách nhiệm để tránh lạm quyền, bảo đảm quyết định của người thực thi công vụ phải dựa trên căn cứ khách quan, không vì mục đích vụ lợi cá nhân. Nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp, đại biểu - Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự kiêm Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng, cần định nghĩa cụ thể, chi tiết về các loại tình trạng khẩn cấp (an ninh, y tế, thiên tai, quốc phòng…) và tiêu chí rõ ràng cũng như xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Đại biểu Thích Bảo Nghiêm kiến nghị, cơ quan soạn thảo cần rà soát tính thống nhất với các luật hiện hành, tránh chồng lấn, mâu thuẫn pháp luật. Trong đó, tăng cường bảo vệ quyền con người bằng cách quy định nguyên tắc, điều kiện và giới hạn rõ ràng của các biện pháp khẩn cấp. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà phát biểu thảo luận Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội quan tâm đến dự thảo Luật Dẫn độ. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, đại biểu cho rằng cần sửa đổi bổ sung đối tượng là “tổ chức quốc tế” hoặc “chủ thể được công nhận có quyền yêu cầu dẫn độ theo điều ước quốc tế” nhằm tạo điều kiện thi hành luật linh hoạt hơn trong các mối quan hệ hợp tác đa phương. Theo đại biểu, trong Điều 1 của dự thảo Luật cần bổ sung nguyên tắc ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam là thành viên khi có mâu thuẫn với luật nội địa; đồng thời cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền con người trong dẫn độ và làm rõ cụm từ “tập quán quốc tế” để bảo đảm tính minh bạch. Đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cũng kiến nghị cơ quan soạn thảo cần làm rõ khái niệm “tội phạm nghiêm trọng” và quy định rõ các trường hợp không dẫn độ, như: Tội phạm chính trị, có nguy cơ tử hình; làm rõ phạm vi áp dụng hình phạt tối thiểu từ 1 năm trở lên là theo pháp luật Việt Nam hay theo nước yêu cầu dẫn độ. Đặc biệt, cần bổ sung quy định cụ thể để lấy ý kiến Chủ tịch nước trong trường hợp nước ngoài yêu cầu không thi hành án tử hình. Đại biểu Lê Nhật Thành phát biểu Đại biểu Lê Nhật Thành, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội quan tâm đến trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ (Điều 33). Theo đại biểu, nên bổ sung quy định về trình tự, thủ tục bắt người trong trường hợp khẩn cấp để dẫn độ khi chưa có yêu cầu dẫn độ chính thức từ phía nước ngoài nếu đáp ứng được 2 điều kiện: Cung cấp đủ thông tin và cam kết thực hiện đầy đủ các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 33 của dự thảo Luật. Đại biểu phân tích, các quốc gia đều có quy định sẽ bắt tạm giam người có thông báo đỏ của Interpol hoặc người bị yêu cầu bắt khẩn cấp để dẫn độ trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi bắt được đối tượng này, các quốc gia sẽ thông báo cho nhau và đề nghị nước được thông báo gửi yêu cầu dẫn độ. Nếu không được yêu cầu dẫn độ trong khoảng thời gian nêu trên, các quốc gia đó sẽ thả người./.