Ai kiểm soát khi bỏ HĐND cấp quận?

Tập trung hóa quyền lực để bộ máy quản lý đô thị “chạy” nhanh hơn đang là một đòi hỏi thực tế. Tuy nhiên, việc triển khai cần thận trọng, làm từng bước phù hợp thực tế và phải có thiết chế kiểm soát thay vị trí của HĐND để tránh tạo cơ hội cho tha hóa quyền lực, tham nhũng và lợi ích nhóm.

Tập trung hóa quyền lực để bộ máy quản lý đô thị “chạy” nhanh hơn đang là một đòi hỏi thực tế. Tuy nhiên, việc triển khai cần thận trọng, làm từng bước phù hợp thực tế và phải có thiết chế kiểm soát thay vị trí của HĐND để tránh tạo cơ hội cho tha hóa quyền lực, tham nhũng và lợi ích nhóm.

 Quang cảnh buổi họp HĐND quận Thanh Xuân tháng 12/2019. Ảnh: Hồng Thái

Không có cơ quan giám sát thì cần thiết chế để kiểm soát

Theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 và Nghị quyết số 724/2009/UBTVQH, từ 25/4/2009 nước ta thí điểm không tổ chức HĐND tại 67 huyện, 32 quận, 483 phường trên địa bàn của 10 tỉnh, TP trực thuộc T.Ư. Chính sách thí điểm nói trên chỉ tồn tại gần 7 năm do vướng vào Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, hiệu lực từ 1/1/2016. Theo Luật, các tỉnh, TP trực thuộc T.Ư có 3 cấp chính quyền, mỗi cấp chính quyền bao gồm HĐND và UBND.

Sau gần 4 năm bỏ thí điểm, mô hình chính quyền không có HĐND được tái thí điểm. Theo đó, ngày 27/11/2019 tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết số 97/2019/QH14 thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại TP Hà Nội không có HĐND phường thuộc 12 quận và thị xã Sơn Tây, nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Việc thí điểm mô hình chính quyền đô thị không có HĐND với kỳ vọng tái cấu trúc bộ máy chính quyền đô thị tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội và phục vụ người dân đô thị tốt hơn. Trên thực tế tại các đô thị lớn, do nhiều nguyên nhân khác nhau đã làm cho vị trí, vai trò của tổ chức HĐND cấp quận, phường hết sức mờ nhạt, hoạt động mang tính chất hình thức. Theo nguyên Phó Chủ tịch Thường trực HĐND quận 4, TP Hồ Chí Minh Võ Trọng Dần, hoạt động kém hiệu quả của cơ quan HĐND cấp phường, quận do nó không có thực quyền, do cán bộ chủ yếu kiêm nhiệm và hạn chế năng lực.

Tuy nhiên, việc Quốc hội đang ủng hộ để các tỉnh, thành tái thí điểm bỏ HĐND cần thận trọng. Ông Dần ví von “một người vào một cơ quan có anh bảo vệ gác cổng đương nhiên là né, còn nếu không có anh bảo vệ đó người ta tự do tung hoành”. HĐND là cơ quan giám sát hoạt động của UBND cùng cấp, nếu không còn HĐND, hoạt động điều hành của UBND có thể rất dễ dẫn tới lạm dụng, tùy tiện khi tập trung hóa tuyệt đối quyền lực vào Chủ tịch UBND quận, phường. Chính vì vậy, việc triển khai cần làm từng bước phù hợp thực tế và phải có thiết chế kiểm soát thay vị trí của HĐND.

Cân nhắc kỹ, triển khai thận trọng

HĐND có nhiều chức năng theo luật định, trong đó chức năng đại diện người dân, bảo vệ quyền lợi người dân và chức năng giám sát là quan trọng nhất. Việc sẽ thí điểm bỏ HĐND nhiệm kỳ 2021 - 2026 của 3 địa phương nói trên rõ ràng mô hình thí điểm bỏ HĐND cấp phường của TP Hà Nội là thực tế hơn cả. Bởi khi không còn HĐND phường thì HĐND quận/thị xã có thể bao sân thực hiện chức năng thay HĐND phường trước đó.

Còn nếu bỏ cả HĐND phường và HĐND quận như đề án thí điểm của TP Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh với lý lẽ cho rằng HĐND TP đủ sức làm thay chức năng của HĐND quận, HĐND phường trên địa bàn dường như có quá tham vọng? Nên nhớ, chính quyền đô thị một cấp đứng đầu là thị trưởng do dân bầu là mô hình quản trị đô thị hiện đại, văn minh đã tồn tại từ lâu tại nhiều quốc gia có chế độ chính trị dân chủ. Việc học tập mô hình đó là cần thiết nhưng hiện tại đang mâu thuẫn với chế độ chính trị ở Việt Nam. Đành rằng đây mới là thực hiện đề án thí điểm, chưa phù hợp sẽ dừng lại nhưng nếu dừng cũng để lại nhiều hệ lụy có cần cân nhắc không?

Mô hình chính quyền đô thị một cấp đã được thí điểm gần 7 năm (2009 - 2015) và thực tế vận hành trôi chảy tại TP Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh, có lẽ đó cũng chỉ dừng lại dưới dạng ý kiến một số cá nhân. Chưa có văn bản tổng kết đánh giá đầy đủ, có cơ sở khoa học được tiến hành bởi một cơ quan nghiên cứu độc lập về kết quả thí điểm mô hình chính quyền đô thị một cấp tại hai TP này.

Hàng chục năm qua, TP Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh là những địa bàn có tình hình phức tạp về quản lý đất đai, quy hoạch, xây dựng, môi trường, quản lý tài chính - ngân sách. Đây cũng là những địa phương có danh mục lãnh đạo, quan chức “nhúng chàm” bị kỷ luật, truy tố xét xử nhiều nhất về vi phạm trong quản lý đô thị. Thực tế đó đang đòi hỏi TP Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh phải chấn chỉnh lại vai trò giám sát của HĐND TP và HĐND quận, huyện. Làm cho HĐND ở hai cấp này đủ thực quyền chứ không phải đề xuất bỏ HĐND cả cấp phường và cấp quận.

TP Hồ Chí Minh cũng đang tích cực hoàn thành đề án xây dựng TP phía đông trên cơ sở gộp 3 quận hiện tại là quận 2, 9 và quận Thủ Đức theo mô hình chính quyền TP trong TP mà Luật Chính quyền địa phương đã quy định. Tuy gọi là mô hình TP trong TP nhưng thực chất nó là đơn vị hành chính tương đương cấp quận. Nghĩa là nếu thực hiện đề án chính quyền đô thị một cấp thì TP phía đông này cũng không có HĐND. TP phía đông sau khi hình thành dự kiến có tổng diện tích tự nhiên hơn 210 km2 và dân số trên 1,1 triệu người, tương đương dân số của TP Đà Nẵng, tỉnh Thừa Thiên Huế và cao hơn dân số tại 23 tỉnh khác. Tốc độ đô thị hóa tại đây sẽ rất cao và quản lý đô thị sẽ phức tạp hơn nhiều. Liệu với một địa bàn như vậy nhưng chỉ đặt dưới sự quản lý bởi UBND TP tương đương cấp quận không có HĐND kiểm soát có dẫn tới tiêu cực nhiều hơn tích cực?

Ngày 16/5, tại phiên họp 45, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thống nhất đề xuất thí điểm mô hình chính quyền đô thị không có HĐND cấp quận, phường của TP Đà Nẵng để trình Quốc hội thông qua. TP Hồ Chí Minh cũng đang tích cực hoàn chỉnh đề án mô hình chính quyền đô thị như Đà Nẵng để sớm trình T.Ư.

Lượt xem: 1008

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.