Ban Cán sự Đảng Chính phủ thông báo ý kiến về Đề án thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội

Ban Cán sự Đảng Chính phủ đánh giá, thành phố Hà Nội là Thủ đô ngàn năm văn hiến, có vai trò đặc biệt quan trọng, trung tâm chính trị - hành chính Quốc gia, trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa - xã hội của cả nước, có quy mô dân số đứng thứ hai trong cả nước; là đô thị đặc biệt, có tốc độ đô thị hóa rất nhanh, nhất là ở các huyện, xã và một số quận mới phát triển...

Ngày 18/2/2019, Ủy viên – Chánh Văn phòng Ban Cán sự Đảng Chính phủ Mai Tiến Dũng đã ký ban hành thông báo ý kiến về Đề án thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội. Theo đó, Ban Cán sự Đảng Chính phủ đánh giá, thành phố Hà Nội là Thủ đô ngàn năm văn hiến, có vai trò đặc biệt quan trọng, trung tâm chính trị - hành chính Quốc gia, trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ, văn hóa - xã hội của cả nước, có quy mô dân số đứng thứ hai trong cả nước; là đô thị đặc biệt, có tốc độ đô thị hóa rất nhanh, nhất là ở các huyện, xã và một số quận mới phát triển...

Sau 10 năm điều chỉnh địa giới hành chính, Thủ đô Hà Nội đã có bước phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, tổng sản phẩm trên địa bàn duy trì năm sau tăng hơn năm trước. Thu hút đầu tư, kể cả đầu tư nước ngoài tăng cả về vốn và số lượng các dự án, trong đó có nhiều dự án lớn. Các lĩnh vực xây dựng nông thôn mới, phúc lợi xã hội tiếp tục được quan tâm. Diện mạo Thủ đô có nhiều thay đổi, quản lý trật tự văn minh đô thị chuyển biến tích cực, được nhân dân cả nước và bè bạn thế giới đánh giá cao. Đặc biệt, khu vực đô thị của Thành phố với kết cấu hạ tầng kỹ thuật được xây dựng hiện đại, cơ bản đồng bộ, thống nhất, không phụ thuộc vào địa giới hành chính quận, phường.... Tại các huyện, xã đang diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng, các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống nhân dân ngày càng phát triển.

Quốc phòng, an ninh được tăng cường, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội, bảo đảm an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, các hoạt động đối ngoại quốc gia, các sự kiện chính trị lớn diễn ra trên địa bàn Thủ đô. Những kết quả Thủ đô đạt được đóng góp rất quan trọng vào thành tựu chung của cả nước trong năm 2018. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, thành phố Hà Nội còn nhiều hạn chế, khó khăn, thách thức: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh chưa tương xứng với vị thế Thủ đô. Quản lý nhà nước về du lịch, đất đai, đô thị, tài nguyên, môi trường, đầu tư xây dựng cơ bản, an toàn thực phẩm còn bất cập. Hạ tầng đô thị, kiểm soát ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, hồ nước, khu đô thị, hệ thống xử lý chất thải sinh hoạt chưa đáp ứng yêu cầu.

Mô hình quản lý hiện hành của Thành phố còn có hạn chế, bộ máy chính quyền còn chưa linh hoạt, khả năng tự quyết định, tự chịu trách nhiệm để giải quyết kịp thời những vấn đề đặt ra đối với đô thị chưa cao. Cơ chế, chính sách về phân cấp giữa Trung ương và Thành phố trong một số lĩnh vực còn chưa phân định rõ ràng, chưa có sự khác biệt giữa khu vực đô thị và nông thôn, giữa Thủ đô và các tỉnh, thành phố trong cả nước, chưa tạo được sự chủ động cho Hà Nội thực hiện nhiệm vụ, đáp ứng nhu cầu của người dân, yêu cầu phát triển và hội nhập của một Thủ đô hiện đại, văn minh.

Tại Kết luận số 22-KL/TW ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011-2020, Bộ Chính trị đã đồng ý để Thành phố Hà Nội được triển khai thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị trong khu vực các quận; tiếp tục củng cố chính quyền nông thôn theo quy định của pháp luật.

Đề án của Thành ủy Hà Nội được xây dựng công phu, nghiêm túc, khoa học, tiếp thu được các định hướng của Trung ương về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương, tranh thủ ý kiến của các Bộ, cơ quan Trung ương, Hội đồng lý luận Trung ương, các chuyên gia, nhà khoa học, chính quyền cấp huyện và cấp xã của Thành phố và ý kiến của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về nội dung, việc xây dựng Đề án thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị tại Thành phố Hà Nội là một bước triển khai thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và Kết luận số 22-KL/TW ngày 07 tháng 11 năm 2017 của Bộ Chính trị về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội giai đoạn 2011- 2020. Nội dung Đề án có nhiều ý tưởng mới, sáng tạo, các đề xuất bám sát yêu cầu xây dựng chính quyền điện tử và đô thị thông minh, nâng cao tính minh bạch, tính thống nhất, thông suốt và sự chủ động, sáng tạo của các cấp trong quản lý nhà nước, phục vụ kịp thời các yêu cầu của người dân trên địa bàn Thủ đô.

Ban Cán sự Đảng Chính phủ nhất trí về mục tiêu đổi mới mô hình tổ chức chính quyền địa phương nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền. Thành phố cần nghiên cứu kỹ lưỡng, làm rõ thêm mô hình tổ chức mới, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp và tạo sự đồng thuận cao trước khi trình Bộ Chính trị, Quốc hội. Về phạm vi, cần quán triệt kết luận của Bộ Chính trị về việc triển khai thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị trong khu vực các quận, tiếp tục củng cố chính quyền nông thôn theo quy định của pháp luật.

Trên cơ sở thực tiễn của việc không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường đã được thực hiện thí điểm tại 10 địa phương theo Nghị quyết số 26/2008/QH12 của Quốc hội, Thành phố cần tập trung các giải pháp bảo đảm quyền đại diện của người dân, tăng cường cơ chế giám sát trực tiếp của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân Thành phố và quận khi triển khai mô hình tổ chức mới.

Về nguyên tắc, đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước các nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Chính phủ, các Bộ, ngành mà Thành phố có khả năng thực hiện tốt nhằm tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý của chính quyền Thành phố, giải quyết kịp thời nhu cầu chính đáng của người dân, doanh nghiệp. Thành phố phối hợp với các Bộ, ngành, rà soát các nội dung phân cấp, trong đó xác định rõ những nhiệm vụ được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các Phó Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành phối hợp với Thành phố xác định cụ thể nhiệm vụ, phạm vi phân cấp theo từng ngành, lĩnh vực trước khi Thành phố hoàn thiện Đề án, báo cáo Ban cán sự Đảng Chính phủ cho ý kiến, trình Bộ Chính trị quyết định.

Ban Cán sự Đảng Chính phủ cũng nhất trí về nguyên tắc với các đề xuất của Thành phố về đổi mới cơ chế, phương thức hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; triển khai chính quyền điện tử gắn với xây dựng đô thị thông minh; các giải pháp củng cố chính quyền nông thôn tại xã; đổi mới tổ chức và hoạt động của tổ chức Đảng, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội của Thành phố khi thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị nhằm đổi mới phương thức quản lý, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.

Về lộ trình thực hiện Đề án: Mô hình thí điểm tại các quận của Thành phố Hà Nội được triển khai trên cơ sở kết luận của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội từ năm 2021 đến năm 2026 theo đề xuất của Thành phố. Căn cứ kết luận của Bộ Chính trị, Thành uỷ Hà Nội chỉ đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan của Thành phố chủ động xây dựng, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc thực hiện thí điểm quản lý theo mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội.

Toàn văn thông báo kết luận mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 1038

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.