Bàn về cơ cấu, thành phần, chất lượng đại biểu HĐND - Kinh nghiệm từ HĐND TP Hà Nội

Chất lượng đại biểu dân cử là một yếu tố quan trọng có mối liên quan mật thiết xuất phát từ cơ cấu, thành phần đại biểu. Nhìn chung, đại biểu HĐND thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2011-2016 đảm bảo các tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, uy tín, phẩm chất đạo đức, chính trị, cơ bản hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Chất lượng đại biểu dân cử là một yếu tố quan trọng có mối liên quan mật thiết xuất phát từ cơ cấu, thành phần đại biểu. Nhìn chung, đại biểu HĐND thành phố Hà Nội nhiệm kỳ 2011-2016 đảm bảo các tiêu chuẩn về trình độ, năng lực, uy tín, phẩm chất đạo đức, chính trị, cơ bản hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.

Trong nhiệm kỳ này, thành phố Hà Nội có tổng số 95 đại biểu HĐND, lập thành 30 tổ đại biểu ở 30 quận, huyện, thị xã. Tính từ đầu nhiệm kỳ, đại biểu trẻ tuổi (dưới 35 tuổi) chiếm 3,16%; đại biểu nữ chiếm 24,21%; đại biểu là người ngoài Đảng chiếm 7,37%; đại biểu là người dân tộc thiểu số chiếm 1,05%; đại biểu là chức sắc tôn giáo chiếm 1,05%; số đại biểu tái cử 25,26%; đại biểu có trình độ đại học và trên đại học chiếm 96,84%, trong đó trên đại học 49,47%.

Các vị đại biểu HĐND Thành phố trao đổi tại kỳ họp thứ 10 - Ảnh: Duy Linh

Thường trực HĐND Thành phố có 3 đại biểu hoạt động chuyên trách là Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên thường trực (kiêm Trưởng ban Kinh tế và Ngân sách). Ba ban HĐND TP mỗi ban có 3 lãnh đạo ban chuyên trách. Như vậy HĐND thành phố Hà Nội có 11 vị đại biểu hoạt động chuyên trách, chiếm 12%. Thành viên các Ban cũng được lựa chọn những đại biểu đại diện cho số ít sở , ban, ngành và chủ yếu là đại biểu từ các cơ quan cấp huyện, các doanh nghiệp, đơn vị ngoài nhà nước, các chuyên gia, nhà khoa học; giúp cho hoạt động của các Ban đảm bảo tính thực tiễn. Đặc biệt đội ngũ lãnh đạo Ban là chuyên trách giúp cho hoạt động của Ban mang tính liên tục, thuận lợi trong quá trình thẩm tra. Ngoài ra, ở HĐND thành phố Hà Nội còn có 3 đại biểu thuộc cơ quan Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP gồm đồng chí Phó Trưởng đoàn ĐBQH chuyên trách, đồng chí Chánh văn phòng và 1 đồng chí Phó Chánh văn phòng.

Tuy nhiên, đại biểu là lãnh đạo các cơ quan chuyên môn thuộc UBND khá đông, ảnh hưởng nhất định đến tính khách quan trong thực hiện quyền giám sát, chất vấn và tham mưu xây dựng các đề án, dự thảo nghị quyết của HĐND Thành phố. Một số đại biểu do đảm bảo cơ cấu (ngoài Đảng, trẻ tuổi, chức sắc tôn giáo…), khả năng bàn bạc để quyết định những vấn đề quan trọng ở Thành phố và thực hiện vai trò đại diện, chức năng giám sát còn hạn chế. Những vấn đề nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đại biểu, khó khăn trong việc bố trí cán bộ chuyên trách và triển khai thực hiện nhiệm vụ của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND Thành phố.

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là cơ cấu, thành phần đại biểu chưa phù hợp, chưa thực sự chú trọng chất lượng đại biểu.

Do vậy, để đại biểu thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình và để HĐND hoạt động hiệu quả trong việc xây dựng cơ cấu, thành phần đại biểu HĐND Thành phố, từ kinh nghiệm của HĐND thành phố Hà Nội cần quan tâm một số điều như sau:

- Trong quá trình lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu HĐND, cùng với việc đảm bảo cơ cấu cần xác định rõ yêu cầu về tiêu chuẩn người ứng cử, đặc biệt quan tâm những người dự kiến bố trí làm đại biểu chuyên trách nếu trúng cử. 

- Không nên cơ cấu nhiều đại biểu là cán bộ các cơ quan nhà nước, nhất là Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn của UBND Thành phố vì trên thực tế họ đã phải đảm đương nhiệm vụ nặng nề của ngành mình, mặt khác cũng để tránh biểu hiện “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, nể nang, né tránh khi thực hiện nhiệm vụ đại biểu. 

- Bố trí đại biểu có trình độ chuyên môn, có vị trí công tác phù hợp tham gia đội ngũ đại biểu chuyên trách ở các Ban. Xác định cụ thể lĩnh vực công tác của mỗi Ban HĐND, số cán bộ, chuyên viên Văn phòng tham mưu, giúp việc cho Thường trực HĐND và các Ban HĐND.

- Tăng cường bồi dưỡng kiến thức về nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu HĐND, nhất là số đại biểu mới tham gia khóa đầu. Thường xuyên cung cấp thông tin cho đại biểu về chuyên môn nghiệp vụ, chính sách pháp luật mới; những thông tin tổng hợp về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương để phục vụ cho hoạt động của đại biểu HĐND. Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng về kỹ năng hoạt động của đại biểu như: Kỹ năng tiếp xúc cử tri, tiếp công dân; kỹ năng diễn thuyết, trình bày; kỹ năng tuyên truyền, phố biến chính sách pháp luật… Xây dựng và thực hiện cơ chế cung cấp, trao đổi thông tin cho đại biểu HĐND thông qua cơ quan giúp việc là Văn phòng HĐND các cấp.

- Thực hiện các hình thức khen thưởng, động viên kịp thời đối với những đại biểu tích cực hoạt động, có nhiều đóng góp thiết thực, trách nhiệm, có tinh thần thẳng thắn đóng góp, xây dựng. Đi đôi với việc thực hiện nghiêm túc việc theo dõi hoạt động của các đại biểu để kịp thời đôn đốc, nhắc nhở những đại biểu chưa tích cực, còn né tránh, ngại va chạm hoặc thiếu trách nhiệm trong hoạt động của HĐND.

- Thường trực HĐND làm tốt công tác điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban HĐND. Phân công cụ thể trong Thường trực HĐND công tác theo dõi, chỉ đạo hoạt động của các Ban HĐND. Xây dựng chương trình công tác chung của Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Văn phòng giúp việc HĐND, cơ chế, chương trình phối hợp công tác giữa các Ban HĐND để thuận lợi trong triển khai và phối hợp thực hiện đồng bộ không bị trùng lặp.

- Tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc của Văn phòng để đảm bảo tốt chức năng tham mưu, phục vụ hoạt động của HĐND, các cơ quan của HĐND và đại biểu HĐND.

ĐOÀN VIỆT CƯỜNG

Lượt xem: 501

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.