Chủ động ban hành các đề án, nghị quyết, quy định nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội

Mặc dù còn thiếu những quy định của Luật về các hoạt động cụ thể của HĐND các cấp, song Thường trực HĐND Thành phố Hà Nội đã chủ động tham mưu để ban hành các đề án, nghị quyết, quy định (trong hành lang pháp lý hiện hành)...nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. Thực tế cho thấy, nhiệm kỳ qua, hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội đã được nâng lên một cách rõ rệt, củng cố vững chắc thêm niềm tin của nhân dân vào cơ quan đại diện cho mình.

HĐND là một cơ quan trong hệ thống chính quyền nhà nước ở địa phương. Vị trí, vai trò của HĐND được thể hiện trước hết trong các bản Hiến pháp nước ta. Trên cơ sở các Hiến pháp 1946, 1980, 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001 và mới đây nhất là Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục khẳng định “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” (Khoản 1 Điều 113 Hiến pháp).

Về mặt thực tiễn, vai trò của HĐND các cấp trong những năm gần đây ngày càng được khẳng định và nâng lên, hoạt động ngày càng đi vào chiều sâu và có hiệu quả. Hiệu lực các nghị quyết của HĐND từng bước được nâng lên. Hoạt động giám sát của HĐND góp phần quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề bức xúc ở địa phương. Công tác tiếp xúc cử tri, tiếp công dân và giải quyết ý kiến, kiến nghị cử tri, khiếu nại tố cáo của công dân được tăng cường và đem lại hiệu quả tích cực. Quan hệ giữa đại biểu dân cử với cử tri được cải thiện, niềm tin của cử tri đối với HĐND được nâng lên. HĐND các cấp đã từng bước phát huy vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân.

Tuy nhiên, thực tế cho thấy ở một số nơi hoạt động của HĐND còn mang tính hình thức, hiệu lực, hiệu quả hoạt động còn nhiều hạn chế. Có nhiều nguyên nhân tác động tới hiệu lực hoạt động của HĐND như: Chất lượng của đại biểu, các điều kiện đảm bảo, chất lượng của cơ quan tham mưu, giúp việc…

Trong nhiệm kỳ qua, HĐND Thành phố Hà Nội đã tham mưu ban hành một số đề án, nghị quyết để nâng cao hiệu lưc, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp. Cụ thể:

(1) Năm 2012, Đảng đoàn, Thường trực HĐND Thành phố đã tham mưu Ban Thường vụ Thành ủy ban hành Đề án số 04/TU về “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội”.

Thực hiện Đề án này, sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng đối với hoạt động của HĐND các cấp được tăng cường . Số đại biểu HĐND chuyên trách và cán bộ HĐND chuyên trách được nâng lên. HĐND Thành phố Hà Nội có 3 Ban, đầu nhiệm kỳ mỗi ban được bố trí 01 Trưởng ban hoạt động chuyên trách, 02 Phó Trưởng ban (01 chuyên trách và 01 kiêm nhiệm), 01 Ủy viên chuyên trách. Tại kỳ họp thứ 7 HĐND Thành phố tháng 7/2013, mỗi Ban HĐND được bổ sung 01 đ/c Phó Trưởng ban chuyên trách từ nguồn Ủy viên chuyên trách, nâng tổng số lãnh đạo chuyên trách của các Ban HĐND lên 09 đ/c (mỗi ban HĐND có 03 lãnh đạo Ban chuyên trách).

Nhiều quận, huyện đã bố trí lãnh đạo các ban hoạt động chuyên trách, bố trí 01 lãnh đạo văn phòng và có chuyên viên giúp việc riêng cho HĐND. HĐND cấp xã đã cơ bản bố trí được phó chủ tịch HĐND chuyên trách. Điều kiện phục vụ cho hoạt động của HĐND các cấp như: cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện hoạt động cơ bản được đảm bảo. Trên cơ sở đó, hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội từng bước được đổi mới, có chiều sâu và hiệu quả. Các hoạt động kỳ họp, giám sát, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo….đều có chất lượng, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

 (2) Nhằm tăng cường hiệu quả công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND, năm 2012, Thường trực HĐND Thành phố ban hành Đề án “Đổi mới công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, nhiệm kỳ 2011-2016” và Quyết định số 51/QĐ-HĐND của Thường trực HĐND Thành phố “Quy định tạm thời về hoạt động tiếp công dân của đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, nhiệm kỳ 2011-2016”.

Theo Đề án này, từ đầu năm 2013, đại biểu HĐND Thành phố tiếp công dân tại đơn vị bầu cử theo phân công của tổ đại biểu. Các vị đại biểu HĐND Thành phố đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao trước cử tri, chấp hành nghiêm túc quy chế hoạt động của đại biểu HĐND; tích cực tham gia tiếp dân theo sự phân công của tổ trưởng tổ đại biểu, chủ động tìm hiểu thông tin, nắm bắt tình hình thực tế của địa phương cũng như các quy định của Thành phố trong quá trình xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cử tri.

Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, từ đầu năm 2014 đến nay, Thường trực HĐND Thành phố luân phiên tổ chức tiếp công dân hàng tháng theo vụ việc cụ thể tại trụ sở tiếp công dân của Thành phố. Các vụ việc được lựa chọn tổ chức tiếp dân là những vụ việc khiếu nại, tố cáo điển hình có nội dung phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết trên địa bàn thành phố. Kết quả cho thấy tiếp dân theo vụ việc đạt hiệu quả rõ ràng hơn, được dư luận và các ban, ngành thành phố ghi nhận, đánh giá cao, đồng thời củng cố niềm tin của cử tri và nhân dân Thủ đô đối với các đại biểu dân cử và các cơ quan chức năng của Thành phố (Thường trực HĐND Hà Nội thực hiện những nội dung này từ khi chưa có Luật Tiếp công dân)

(3) Năm 2013, Thường trực HĐND tham mưu ban hành Nghị quyết số 32/2013 của HĐND TP về “Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND TP Hà Nội”.

Trên cơ sở Nghị quyết 32, hoạt động giám sát, khảo sát của HĐND Thành phố Hà Nội tiếp tục có nhiều đổi mới, được thực hiện bài bản, thiết thực, hiệu quả. Việc ban hành Nghị quyết 32 cũng là một sự sáng tạo, làm căn cứ pháp lý cho hoạt động giám sát của HĐND trong khi Quốc hội chưa ban hành Luật Giám sát của HĐND các cấp. Bên cạnh việc giám sát của Thường trực HĐND, các Ban HĐND Thành phố, một số tổ đại biểu HĐND TP phối hợp với địa phương tổ chức giám sát, tập trung vào những vấn đề lớn, nổi cộm ở địa phương, được cử tri đồng tình ủng hộ (ví dụ trong năm 2014: Tổ đại biểu Hai Bà Trưng giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo; Tổ đại biểu Hà Đông giám sát việc chậm triển khai dự án tại Rạp Nguyễn Trãi cũ; Tổ đại biểu Thanh Trì giám sát việc triển khai dự án đường hành lang đê Hữu Hồng tại xã Tứ Hiệp, Ngũ Hiệp; Tổ đại biểu Nam Từ Liêm giám sát công tác quản lý nhà chung cư trên địa bàn; Tổ đại biểu Mê Linh giám sát tiến độ triển khai các công trình trọng điểm....). Việc nâng cao chất lượng giám sát của HĐND được cử tri và nhân dân đánh giá cao; quan trọng hơn là góp phần tích cực cùng chính quyền các cấp kịp thời tháo gỡ những bức xúc, vướng mắc từ cơ sở.

Như vậy, mặc dù còn thiếu những quy định của Luật về các hoạt động cụ thể của HĐND các cấp, song Thường trực HĐND Thành phố Hà Nội đã chủ động tham mưu để ban hành các đề án, nghị quyết, quy định (trong hành lang pháp lý hiện hành)...nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND. Thực tế cho thấy, nhiệm kỳ qua, hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội đã được nâng lên một cách rõ rệt, củng cố vững chắc thêm niềm tin của nhân dân vào cơ quan đại diện cho mình.

QUỲNH DAO

Lượt xem: 457

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.