Đoàn ĐBQH TP Hà Nội với việc giám sát giải quyết kiến nghị của cử tri – Kinh nghiệm, khó khăn và giải pháp khắc phục

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổng hợp được 481 ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành trung ương; 874 ý kiến, kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương. Với tinh thần trách nhiệm cao, các ý kiến, kiến nghị của cử tri Thủ đô với các cơ quan nhà nước đã đề cập hầu hết các lĩnh vực...

Trách nhiệm của Đoàn ĐBQH với việc giám sát giải quyết kiến nghị của cử tri được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 “Tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội và tổ chức để các đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia và phối hợp với Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội trong các hoạt động giám sát tại địa phương; theo dõi, đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội đã chuyển đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan cung cấp thông tin, báo cáo về những vấn đề mà Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm”; Khoản 3 Điều 37 Nghị quyết liên tịch số 525/2012/NQLT/UBTVQH13-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 27/9/2012 về việc tiếp xúc cử tri của Đại biểu Quốc hội quy định: “Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương và gửi báo cáo kết quả giám sát đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội.”

Theo quy định của pháp luật, ý kiến, kiến nghị của cử tri được đại biểu Quốc hội thu thập qua hoạt động tiếp xúc cử tri, qua phản ánh của công dân, qua mail, điện thoại... trên cơ sở đó Đoàn ĐBQH tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội,  Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và gửi đến UBND Thành phố để xem xét, giải quyết.

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổng hợp được 481 ý kiến, kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết của Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành trung ương; 874 ý kiến, kiến nghị thuộc thẩm quyền giải quyết của địa phương. Hầu hết các ý kiến của cử tri tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của Nhà nước và các bộ, ngành ở Trung ương và Thành phố. Với tinh thần trách nhiệm cao, các ý kiến, kiến nghị của cử tri Thủ đô với các cơ quan nhà nước đã đề cập hầu hết các lĩnh vực: xây dựng pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật, kinh tế, nông nghiệp, nông thôn, văn hóa, xã hội, thông tin, truyền thông, giáo dục-đào tạo, y tế, chính sách lao động, quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, nội vụ và xây dựng chính quyền, phòng chống tham nhũng lãng phí...

Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành ở trung ương và UBND Thành phố đã quan tâm chỉ đạo công tác tiếp thu, trả lời và thực hiện các nội dung trả lời ý kiến, kiến nghị chính đáng của cử tri đạt được kết quả và có sự chuyển biến tích cực năm sau hơn năm trước, góp phần củng cố và nâng cao lòng tin của nhân dân.

Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản, vẫn còn có một số vấn đề cử tri có ý kiến nhiều lần nhưng chưa được cấp có thẩm quyền giải quyết dứt điểm;  Một số nội dung trả lời ý kiến cử tri chưa cụ thể nên cử tri còn ý kiến, một số nội dung trả lời kiến nghị của cử tri vẫn còn chung chung (như: đang xem xét, sẽ xem xét, giải quyết khi có điều kiện hoặc chỉ nêu trong thời gian tới sẽ xem xét giải quyết); chưa quan tâm để giải quyết triệt để những vấn đề bức xúc, vướng mắc mà cử tri đã kiến nghị.

Để nâng cao trách nhiệm trong việc giải quyết ý kiến cử tri, Đoàn ĐBQH Thành phố đã chỉ đạo Văn phòng theo dõi việc tiếp thu, trả lời và giải quyết của các cơ quan chức năng đối với các ý kiến, kiến nghị của cử tri. Đối với những kiến nghị bức xúc mà cử tri kiến nghị nhiều lần, Đoàn xây dựng kế hoạch khảo sát, giám sát cụ thể từng nội dung, trên cơ sở đó có văn bản kiến nghị đến các cơ quan chức năng để được xem xét, giải quyết, thường xuyên đôn đốc thực hiện, kết quả bước đầu đã phát huy hiệu quả. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội được Thành ủy, HĐND, UBND quan tâm, thực hiện. Đa số các vụ khiếu nại, tố cáo đều được giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục. Tuy nhiên còn tồn tại một số vụ khiếu nại đông người với nội dung chủ yếu liên quan đến việc thực hiện chính sách thu hồi đất, quản lý đất đai, đền bù, GPMB…

Cụ thể trong năm 2012,  Đoàn ĐBQH Thành phố đã thành lập Đoàn giám sát về “Việc quản lý và sử dụng đất tại các nông trường, trạm trại; giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2003 đến năm 2011”. Năm 2013, Đoàn đã tổ chức khảo sát về “Việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông của các cơ quan hành chính nhà nước trong cải cách hành chính trên địa bàn Thành phố từ năm 2009 đến năm 2013”. Năm 2014, Đoàn ĐBQH Thành phố đã tổ chức giám sát về Việc thực hiện chính sách pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2011 - 2013...

Năm 2015 Đoàn ĐBQH Thành phố đã tổ chức Đoàn khảo sát về “Tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2014”, qua giám sát cho thấy, việc tuân thủ pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động của nhiều doanh nghiệp hiện nay chưa nghiêm, nhất là trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ; số lượng người được huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động năm sau tăng so với năm trước nhưng vẫn đạt tỷ lệ thấp so với tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động; nhiều người lao động chưa được huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động...

Các vị đại biểu Quốc hội đơn vị bầu sử số 4 đã tổ chức buổi làm việc với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT và các cơ quan liên quan tại huyện Thanh Trì để giải quyết các kiến nghị của các hộ dân ngoài bãi ven sông Hồng đề nghị Nhà nước nghiên cứu xem xét điều chỉnh quy hoạch phòng chống lũ hệ thống sông Hồng cho phù hợp tình hình khí tượng thủy văn thực tế của từng địa phương, để các tỉnh, thành phố kịp thời điều chỉnh quy hoạch vùng thoát lũ, tạo điều kiện cho các hộ dân đã sinh sống lâu đời ngoài bãi ven sông được xây dựng, sửa chữa nhà ở.

Nhìn chung hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH Thành phố về giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri được duy trì và có bước chuyển biến tích cực, có hiệu quả. Việc chọn nội dung giám sát, khảo sát phù hợp với chức năng, nhiệm vụ theo luật định và sát với nội dung ý kiến, kiến nghị của cử tri; việc xây dựng và tiến hành kế hoạch giám sát đúng nội dung, thời gian đề ra; Tổ chức đoàn đi giám sát, khảo sát tại thực địa, báo cáo kết quả giám sát có đánh giá những mặt làm được, chưa được, những giải pháp, kiến nghị giải quyết. Có lĩnh vực Đoàn tổ chức tái khảo sát như: “kết quả thực hiện các kiến nghị về quản lý, sử dụng đất đai tại các nông lâm trường, trạm trại trên địa bàn Thành phố”.

Những khó khăn, bất cập trong hoạt động giám sát đó là một số cơ quan có thẩm quyền chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm trong việc tổ chức, chỉ đạo tiếp thu, giải quyết, trả lời cử tri, dẫn đến việc giải quyết, trả lời còn chậm, có những kiến nghị của cử tri kiến nghị nhiều lần nhưng chưa được các bộ, ngành quan tâm giải quyết, hoặc giải quyết chưa triệt để như: việc triển khai giải quyết tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác quản lý đất đai tại các nông, lâm trường, trạm trại trên địa bàn Thành phố; việc di dời các cơ quan, đơn vị ra khỏi nội thành Hà Nội...

Có văn bản trả lời của cơ quan có thẩm quyền giải quyết chưa đi thẳng vào nội dung cử tri kiến nghị, việc cung cấp thông tin, giải trình cho cử tri có trường hợp chưa thực sự thấu đáo, chưa có tính thuyết phục, dẫn đến việc cử tri kiến nghị nhiều lần. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền liên quan vẫn còn bất cập, trong khi có những kiến nghị mà việc giải quyết phải có sự phối hợp của nhiều cơ quan.

Các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác giám sát giải quyết kiến nghị của cử tri:

- Tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016).

- Đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nghiên cứu sửa đổi Nghị quyết liên tịch số 525/2012/NQLT/UBTVQH13-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 27/9/2012 theo hướng Đoàn ĐBQH giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri đối với tất cả các cơ quan có thẩm quyền giải quyết kiến nghị của cử tri ở địa phương đã gửi đến, không chỉ giám sát trong phạm vi như quy định: “Đoàn đại biểu Quốc hội giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở địa phương và gửi báo cáo kết quả giám sát đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Để nâng cao hơn nữa chất lượng giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ và các bộ, ngành trung ương, đề nghị Chính phủ nghiên cứu xây dựng và ban hành quy chế phối hợp giữa các bộ, ngành trong việc giải quyết kiến nghị của cử tri thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành.

- Đề nghị các bộ, ngành trung ương, sau khi nhận được các ý kiến, kiến nghị của cử tri do Ban Dân nguyện chuyển đến, cần sớm có văn bản trả lời. Nội dung trả lời cần đi vào trọng tâm đúng những vấn đề cử tri kiến nghị và đưa ra giải pháp và thời hạn cụ thể. Hàng năm, tập hợp những thay đổi về chính sách, quản lý điều hành đã nêu trong văn bản trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri và gửi bổ sung về các Đoàn ĐBQH. 

HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 505

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.