Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm tra - Kinh nghiệm từ HĐND thành phố Hà Nội

Kỳ họp thứ 14 HĐND Thành phố đã thành công tốt đẹp. Các Nghị quyết đều được thông qua với tỷ lệ đồng thuận cao. Có được điều đó là do ngay từ khi chuẩn bị kỳ họp, Thường trực HĐND Thành phố đã sớm phân công các Ban HĐND Thành phố thẩm tra các các báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết liên quan đến lĩnh vực Ban phụ trách. Việc Thường trực sớm phân công các Ban là để giúp các Ban vào cuộc ngay từ đầu, thu thập tài liệu, tổ chức khảo sát, giám sát phục vụ cho công tác thẩm tra. Bởi hơn ai hết, Thường trực và các Ban HĐND Thành phố đều xác định, các báo cáo thẩm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình thảo luận, xem xét và thông qua nghị quyết.

Kỳ họp thứ 14 HĐND Thành phố đã thành công tốt đẹp. Trên cơ sở các báo cáo, tờ trình, đề án của UBND Thành phố trình tại kỳ họp thứ 14, HĐND Thành phố đã thảo luận, thông qua 7 nghị quyết thường kỳ và 12 nghị quyết chuyên đề. Các Nghị quyết đều được thông qua với tỷ lệ đồng thuận cao. Có được điều đó là do ngay từ khi chuẩn bị kỳ họp, Thường trực HĐND Thành phố đã sớm phân công các Ban HĐND Thành phố thẩm tra các các báo cáo, tờ trình và dự thảo nghị quyết liên quan đến lĩnh vực Ban phụ trách. Việc Thường trực sớm phân công các Ban là để giúp các Ban vào cuộc ngay từ đầu, thu thập tài liệu, tổ chức khảo sát, giám sát phục vụ cho công tác thẩm tra. Bởi hơn ai hết, Thường trực và các Ban HĐND Thành phố đều xác định, các báo cáo thẩm tra có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình thảo luận, xem xét và thông qua nghị quyết.

Thẩm tra là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cho HĐND thực hiện tốt chức năng quyết định tại các kỳ họp. Chủ thể thực hiện công tác thẩm tra là Thường trực, các ban HĐND trước khi tiến hành kỳ họp HĐND nhằm cung cấp thông tin, định hướng cho HĐND thảo luận và quyết định tại kỳ họp. Làm tốt công tác thẩm tra giúp cho kỳ họp nói chung và mỗi nghị quyết được ban hành nói riêng có chất lượng và hiệu quả.

Để nâng cao chất lượng công tác thẩm tra, Thường trực và các ban HĐND cần chú ý một số vấn đề sau :

1. Hiểu đúng về thẩm tra và những yêu cầu đối với công tác thẩm tra

- Thẩm tra là việc các cơ quan có chức năng, nhiệm vụ theo quy định pháp luật nghiên cứu trước để cho ý kiến về các báo cáo, đề án, tờ trình của các cơ quan có thẩm quyền  trình HĐND.

- Yêu cầu cơ bản của công tác thẩm tra là: phải có được báo cáo thẩm tra trình HĐND tại kỳ họp hoặc báo cáo Thường trực HĐND xem xét quyết định trong phạm vi, thẩm quyền của Thường trực HĐND giữa hai kỳ họp; Các ý kiến đưa ra trong báo cáo thẩm tra phải rõ quan điểm, đầy đủ, khách quan, đúng quy định pháp luật.

2. Chuẩn bị tài liệu, tư liệu, thông tin phục vụ cho công tác thẩm tra là hết sức quan trọng đảm bảo cho thẩm tra có chất lượng.

Để chuẩn bị cho việc thẩm tra, các ban của HĐND cần dành nhiều thời gian để làm việc trực tiếp với các cơ quan, đơn vị, khảo sát thực tế tại cơ sở, nhằm nắm bắt được thông tin, tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân để khi thẩm tra có những đánh giá chính xác, khách quan, phản ánh đúng thực trạng tình hình, những vấn đề trọng tâm cần được tập trung giải quyết; cần nghiên cứu, nắm vững các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị của Thành ủy, nghị quyết của HĐND. Trên cơ sở phân công nhiệm vụ của Thường trực HĐND, các Ban HĐND phải triển khai ngay việc xây dựng kế hoạch thẩm tra, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Ban; tăng cường sự phối hợp giữa các Ban, giữa các cơ quan thẩm tra với cơ quan chuyên môn và cơ quan soạn thảo.

3. Khi Thẩm tra, Thường trực và các Ban HĐND có thể tự mình làm,  hoặc tham vấn chuyên gia,  hoặc lấy ý kiến các đối tượng có liên quan thông qua tiếp xúc cử tri, nhưng dù bằng cách nào thì Thường trực và các ban HĐND vẫn là người chủ trì, chịu trách nhiệm chính khi báo cáo HĐND (hoặc Thường trực HĐND) về ý kiến thẩm tra. Chất lượng một báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ căn cứ pháp lý và quan điểm của ban về nội dung thẩm tra. Báo cáo thẩm tra cũng phải nêu được nội dung nào phù hợp quy định pháp luật, nội dung nào phù hợp thực tiễn, có tính khả thi, vì sao? Nội dung nào không phù hợp pháp luật, không phù hợp thực tiễn, không khả thi, vì sao? Và những đề xuất điều chỉnh của ban. Báo cáo thẩm tra phải có tính xây dựng, gợi mở, tính phản biện; khắc phục tính hình thức, sự né tránh, tạo cơ sở tin cậy cho việc xem xét, quyết định của đại biểu HĐND tại kỳ họp.

Sau thẩm tra, đối với những vấn đề các thành viên Ban còn băn khoăn, có ý kiến khác nhau, các Ban HĐND tổng hợp, báo cáo Thường trực HĐND Thành phố để trao đổi, thống nhất với UBND Thành phố, cùng nhau bàn bạc giải quyết vì trong thực tế công tác thẩm tra, nhiều lúc gặp nội dung có ý kiến khác nhau, thậm chí mâu thuẫn, nếu không xem xét kỹ khi đưa ra kỳ họp HĐND sẽ khó đạt được sự thống nhất cao.

4. Kinh nghiệm của HĐND Thành phố Hà nội là việc phối hợp chặt chẽ giữa Thường trực HĐND, các ban HĐND với UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND trong quá trình chuẩn bị các báo cáo, đề án, tờ trình trình HĐND; sự vào cuộc sớm của Thường trực và các Ban HĐND ngay từ đầu và trong suốt quá trình chuẩn bị tài liệu trình của các cơ quan chuyên môn và UBND, cũng như việc đảm bảo thời  gian, tiến độ gửi tài liệu đến các cơ quan thẩm tra trước khi khai mạc kỳ họp HĐND theo quy định pháp luật. Cách làm này giúp cho Thường trực HĐND và các ban HĐND vào sớm, vào sâu, chia sẻ thông tin trong suốt quá trình chuẩn bị tài liệu trình và giúp cho các cơ quan thẩm định có đủ thời gian đưa thông tin phục vụ cho thẩm tra.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, HĐND Thành phố Hà Nội đã tổ chức 14 kỳ họp, gồm 10 kỳ họp thường kỳ, 04 kỳ họp không thường kỳ và chuyên đề; ban hành 137 Nghị quyết. Trong đó, có 18 nghị quyết về công tác quy hoạch ngành, lĩnh vực và 13 nghị quyết cụ thể hóa Luật Thủ đô. Số còn lại là các nghị quyết thường kỳ 6 tháng, hàng năm về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, thu chi ngân sách, về chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình giám sát hàng năm của HĐND, về phân bổ biên chế hành chính, sự nghiệp vv…; các nghị quyết chuyên đề về các vấn đề kinh tế - văn hóa - xã  hội - an  ninh - quốc phòng và các nghị quyết về công tác nhân sự. Với sự chuẩn bị, thẩm tra kỹ lưỡng của Thường trực và các Ban HĐND Thành phố, các Nghị quyết được ban hành đều có chất lượng tốt, đi vào cuộc sống và có tính khả thi cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của Thành phố.

QUỲNH DAO

Lượt xem: 583

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.