Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm tra của Ban Pháp chế đối với các báo cáo, đề án trình HĐND

Ngày 5-4, lần đầu tiên Ban Pháp chế HĐND TP Hà Nội tổ chức Hội nghị với Ban Pháp chế HĐND các quận, huyện, thị xã để thảo luận, trao đổi chuyên đề “ Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng thẩm tra các báo cáo, đề án trình HĐND” với mong muốn làm rõ thêm cả về lý luận và thực tiễn nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của Ban Pháp chế HĐND trong hoạt động thẩm tra. Đồng thời củng cố những kỹ năng cơ bản, bổ sung thêm những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND...

           Ngày 5-4, lần đầu tiên Ban Pháp chế HĐND thành phố Hà Nội tổ chức Hội nghị với Ban Pháp chế HĐND các quận, huyện, thị xã để thảo luận, trao đổi chuyên đề “ Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng thẩm tra các báo cáo, đề án trình Hội đồng nhân dân” với mong muốn làm rõ thêm cả về lý luận và thực tiễn nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của Ban Pháp chế HĐND trong hoạt động thẩm tra. Đồng thời củng cố những kỹ năng cơ bản, bổ sung thêm những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND...

Trang thông tin hoạt động của Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố Hà Nội trân trọng trích dẫn Đề cương chuyên đề của Ban Pháp chế HĐND thành phố Hà Nội về "Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm tra của Ban Pháp chế đối với các báo cáo, đề án trình HĐND" như sau:

1. Quán triệt các quy định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, yêu cầu nội dung thẩm tra, mục đích và vai trò hoạt động thẩm tra của Ban pháp chế Hội đồng nhân dân.

Thẩm tra báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết là một nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động của các Ban HĐND. Nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, nội dung thẩm tra được quy định cụ thể trong Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND, Quy chế hoạt động của HĐND.

Điều 55 Luật Tổ chức HĐND và UBND quy định: Các ban HĐND có nhiệm vụ thẩm tra các báo cáo, đề án do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công. Điều 31 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND quy định: Dự thảo nghị quyết của HĐND phải được Ban của HĐND cùng cấp thẩm tra trước khi trình HĐND. Tại Điều 35 Quy chế hoạt động của HĐND quy định: Ban Pháp chế HĐND thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực thi hành pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính do HĐND hoặc Thường trực HĐND phân công.

Quyền hạn, trình tự, nội dung báo cáo thẩm tra được cụ thể hóa tại Điều 36 Quy chế hoạt động của HĐND quy định: Để chuẩn bị cho việc thẩm tra, Ban có thể cử thành viên tham gia nghiên cứu dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án; yêu cầu cơ quan soạn thảo và các cơ quan hữu quan cung cấp tài liệu và trình bày về vấn đề mà Ban thẩm tra, tổ chức họp lấy ý kiến của những người am hiểu về vấn đề đó, khảo sát tình hình thực tế tại địa phương về những nội dung liên quan đến dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án. Việc thẩm tra được thực hiện theo trình tự: Đại diện cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trình bày; đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan phát biểu ý kiến; Ban thảo luận; đại diện cơ quan, tổ chức trình dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án phát biểu ý kiến nếu thấy cần thiết; Chủ tọa cuộc họp kết luận; Ban biểu quyết.Báo cáo thẩm tra phải nêu được ý kiến đánh giá của Ban về dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án, những vấn đề được Ban nhất trí, không nhất trí và còn có ý kiến khác nhau, những kiến nghị sửa đổi, bổ sung.

Từ các quy định của pháp luật và thực tiễn hoạt động của HĐND trong thời gian qua có thể khẳng định: Mục đích thẩm tra của các Ban HĐND nói chung và ban Pháp chế HĐND là xem xét một cách toàn diện cả về hình thức và nội dung các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trước khi trình HĐND có đảm bảo hợp hiến, hợp pháp, phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và điều kiện thực tế của địa phương hay không, có khả thi không, kịp thời phát hiện những hạn chế, thiếu sót để có giải pháp khắc phục, từ đó có sự phân tích, nhận định làm cơ sở định hướng để HĐND thảo luận, quyết định tại kỳ họp HĐND.

Hoạt động thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND có vai trò quan trọng, không chỉ tác động nâng cao trách nhiệm thực thi pháp luật của các cơ quan Nhà nước, cơ quan tư pháp mà còn góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, khẳng định vai trò, vị trí của HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý trí, nguyện vọng, quyền làm chủ của nhân dân, quyết định những vấn đề quan trọng về kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương.

Nhận thức đầy đủ, quán triệt sâu sắc các quy định của pháp luật và vai trò thẩm tra có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo hoạt động thẩm tra của các Ban HĐND nói chung và Ban Pháp chế HĐND nói riêng được tuân thủ đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng, đáp ứng yêu cầu đổi mới hoạt động của HĐND.

2. Những mặt được và những hạn chế trong hoạt động thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND đối với các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp HĐND

2.1. Những mặt được:

- Hoạt độngthẩm tra của Ban Pháp chế được Thường trực HĐND các cấp quan tâm chỉ đạo, điều hòa phối hợp chặt chẽ. Được Ban Pháp chế HĐND tiến hành tích cực, khẩn trương, đảm bảo quy định của pháp luật và có sự phối hợp với các cơ quan soạn thảo báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết.

- Hàng năm căn cứ chương trình xây dựng nghị quyết, chương trình giám sát của HĐND, Ban Pháp chế HĐND các cấp đã chủ động có kế hoạch tổ chức triển khai giám sát việc chấp hành pháp luật, thực thi pháp luật của các cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, qua đó nắm bắt thông tin phục vụ công tác thẩm tra.

- Việc thẩm tra được thực hiện theo trình tự quy định của pháp luật, có sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, cải tiến phương thức thẩm tra phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Nội dung thẩm tra bao quát và có lựa chọn trọng tâm để thẩm tra sâu, tập trung vào các nội dung: tình hình vi phạm, tội phạm, công tác điều tra, truy tố, xét xử, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chấp hành pháp luật trong các lĩnh vực đất đai, đền bù GPMB, quy hoạch, quản lý trật tự đô thị, xây dựng...vv.

- Về cơ bản Báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND ở nhiều quận, huyện thể hiện rõ quan điểm, rõ chính kiến của Ban đồng tình, hoặc không đồng tình đối với những vấn đề, nội dung thẩm tra, cung cấp được nhiều thông tin giúp cho đại biểu HĐND phân tích, đánh giá, xem xét, quyết định tại kỳ họp.

- Thông qua hoạt động thẩm tra, vai trò của Ban Pháp chế HĐND được khẳng định ngày càng rõ nét, góp phần quan trọng nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp.

2.2. Những mặt hạn chế, tồn tại:

- Công tác chuẩn bị hồ sơ, tài liệu thẩm tra của cơ quan soạn thảo thường chưa đảm bảo tiến độ. Trên thực tế còn một số báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết chuẩn bị chưa kỹ, chất lượng chưa cao.Việc gửi hồ sơ, tài liệu thẩm tra trong nhiều kỳ họp HĐND thường chậm, chưa đúng thời hạn quy định của Luật, ảnh hưởng không nhỏ đến thời gian, chất lượng thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND.

- Công tác phối hợp giữa Ban Pháp chế HĐND với UBND, cơ quan chuyên môn của UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp trong công tác chuẩn bị tài liệu thẩm tra có lúc, có việc chưa thường xuyên, chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao.

- Chất lượng thẩm tra, chất lượng Báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu, nội dung thẩm tra chưa có chiều sâu, tính phản biện chưa cao, cá biệt còn xuôi chiều. Việc huy động các chuyên gia trong lĩnh vực pháp chế tham gia thẩm tra chưa nhiều.

- Hoạt động giám sát, khảo sát thực tế nắm bắt thông tin phục vụ công tác thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND ở một số địa phương còn hạn chế, số lượng các cuộc giám sát về tình hình chấp hành pháp luật của các cơ quan hành chính, thực thi pháp luật của các cơ quan tư pháp cùng cấp chưa nhiều, nội dung giám sát chưa sâu, hiệu quả giám sát chưa cao.

- Thành viên Ban Pháp chế HĐND hoạt động kiêm nhiệm, nhiều đại biểu chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm, thường xuyên vắng mặt không tham gia các hoạt động của Ban; kỹ năng thẩm tra của thành viên ban còn hạn chế; việc cung cấp thông tin cho các thành viên Ban về những nội dung thẩm tra chưa tốt;  điều kiện đảm bảo cho hoạt động thẩm tra còn hạn chế.

3. Một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng thẩm tra

Nhân tố khách quan:

Thứ nhất: Hệ thống pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, văn bản QPPL của các cấp ban hành nhiều, nhưng thường xuyên bổ sung, thay đổi.

Thứ hai: Lãnh đạo Ban và thành viên Ban Pháp chế quận, huyện đều hoạt động kiêm nhiệm, không có chuyên trách, không có chuyên viên giúp việc.

Nhân tố chủ quan:

Thứ nhất:Báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết của cơ quan soạn thảo chuẩn bị không tốt. Theo quy định của pháp luật, UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm soạn thảo và trình các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết tại kỳ họp HĐND.

Thứ hai: Thời gian dành cho hoạt động thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND không đảm bảo. Theo quy địnhcủa pháp luật chậm nhất là 15 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp HĐND cấp tỉnh, 10 ngày đối với HĐND cấp huyệnbáo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình HHĐND phải được gửi tới các Ban HĐND để thẩm tra.

Thứ ba: Thành viên Ban Pháp chế HĐND thiếu thông tin về các nội dung phải thẩm tra trên lĩnh vực pháp chế và các thông tin chung về tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, chấp hành pháp luật, thực thi pháp luật ở địa phương.

Thứ tư: Không tuân thủ trình tự thẩm tra theo quy định của Luật.

Thứ năm: Không đảm bảo đủ các điều kiện cần thiết phục vụ hoạt động thẩm tra.

4. Những giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND đối với các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp HĐND

4.1. Nâng cao nhận thức về nhiệm vụ, vai trò thẩm tra

- Thẩm tra báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết liên quan đến lĩnh vực thi hành pháp luật, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính là nhiệm vụ quan trọng của Ban Pháp chế HĐND, được luật hóa trong các văn bản pháp luật. Hoạt động thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND có chất lượng sẽ góp phần nâng cao vai trò, vị trí của Ban, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.

- Thành viên Ban Pháp chế HĐND cần dành thời gian thỏa đáng để tham gia đầy đủ các hoạt động của Ban. Chủ động trong công tác thu thập thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu sâu, kỹ tình hình kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và những vấn đề liên quan đến chấp hành pháp luật, thực thi pháp luật ở địa phương để tham gia đóng góp tích cực, thẳng thắn, hiệu quả vào hoạt động thẩm tra của Ban.

- Để giúp cho Ban Pháp chế HĐND chủ động trong công tác thẩm tra, Thường trực HĐND căn cứ vào nội dung kỳ họp của địa phương đã được xác định, sớm phân công nhiệm vụ thẩm tra cho Ban. Trên cơ sở nhiệm vụ thẩm tra thuộc lĩnh vực pháp chế và các nội dung thẩm tra được phân công, Ban cần có Kế hoạch cụ thể để triển khai các hoạt động, giám sát, khảo sát phục vụ công tác thẩm tra.

4.2. Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa Ban Pháp chế HĐND với UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân trong công tác thẩm tra

- Căn cứ chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm, nội dung kỳ họp HĐND đã được xác định, nhiệm vụ thẩm tra được Thường trực HĐND phân công, Ban Pháp chế HĐND cần chủ động có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND (Công an, Thanh tra nhà nước, phòng quản lý đô thị, phòng tư pháp), Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án cùng cấp ngay từ ban đầu quá trình chuẩn bị báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết, nhất là đối với các đề án, dự thảo nghị quyết chuyên đề. Việc phối hợp được thực hiện bằng các hình thức, phương pháp thích hợp, đảm bảo định hướng và sự chủ động của cơ quan soạn thảo.

- UBND, các cơ quan chuyên môn của UBND, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành án cùng cấp cần tăng cường trách nhiệm, nâng cao chất lượng khâu soạn thảo các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết trình HĐND. Nội dung báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết khi soạn thảo cần được nghiên cứu, đối chiếu kỹ với các quy định của Hiến pháp, pháp luật, đảm bảo các căn cứ pháp lý, phù hợp thực tiễn địa phương, tính khả thi cao. Đảm bảo tiến độ thời gian soạn thảo và thực hiện việc gửi hồ sơ, tài liệu thẩm tra cho Thường trực HĐND, Ban Pháp chế HĐND đúng thời hạn theo quy định của Luật.

- Cơ quan Văn phòng HĐND và UBND cần xây dựng Kế hoạch tham mưu, phục vụ cụ thể cho từng kỳ họp HĐND; chủ động phối hợp chặt chẽ với Ban Pháp chế HĐND cùng cấp trong việc chuẩn bị các tài liệu thẩm tra; đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất, kinh phí phục vụ hoạt động giám sát, thẩm tra của Ban Pháp chế HĐND theo quy định pháp luật.

4.3. Nâng cao chất lượng giám sát, khảo sát thu thập thông tin phục vụ thẩm tra

Hoạt động giám sát và hoạt động thẩm tra có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, kết quả giám sát là những thông tin, yếu tố quan trọng để thẩm tra có chất lượng đối với các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết trước khi trình HĐND.

- Căn cứ chương trình giám sát của HĐND hàng năm, nội dung kỳ họp đã được xác định và nhiệm vụ thẩm tra được Thường trực HĐND phân công, Ban Pháp chế HĐND cần chủ động có Kế hoạch giám sát, khảo sátđánh giá tình hình chấp hành pháp luật, hoạt động của các cơ quan tư pháp trên địa bànđể nắm bắt thông tin phục vụ thẩm tra.

- Nội dung giám sát của Ban Pháp chế HĐND cần lựa chọn những vấn đề lớn, cơ bản chi phối đến việc hoàn thành các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tình hình chấp hành pháp luật của địa phương nói chung, và những vấn đề thuộc chức năng nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, những vấn đề nổi cộm trên lĩnh vực pháp chế được đông đảo cơ sở, cử tri quan tâm, có kiến nghị.

- Phương pháp giám sát của Ban Pháp chế HĐND cần chặt chẽ, phù hợp giám sát cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức giám sát có thể kết hợp giám sát, khảo sát trực tiếp với giám sát qua báo cáo để năm bắt thông tin một cách toàn diện. Chú ý sự phối hợp chặt chẽ với Ủy ban MTTQ cũng như với các cơ quan chuyên môn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong hoạt động giám sát, đánh giá đúng đắn và khách quan vấn đề hoặc nội dung giám sát.

- Các thành viên Ban Pháp chế HĐND cần phải dành thời gian thỏa đáng tham gia đầy đủ các cuộc giám sát,khảo sát của Ban, phát huy vai trò, trách nhiệm, kinh nghiệm, năng lực và bản lĩnh trong hoạt động giám sát, thông qua đó nắm bắt thông tin về nội dung giám sát đóng góp ý kiến cho hoạt động thẩm tra của Ban.

4.4. Nâng cao kỹ năng thẩm tra đối với các báo cáo, đề án, dự thảo nghị quyết trình kỳ họp HĐND

- Căn cứ nhiệm vụ thẩm tra được phân công, Ban Pháp chế HĐND cần xây dựng kế hoạch chi tiết cho công tác thẩm tra, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong Ban.

- Phối hợp chặt chẽ với các Ban HĐND, UBND, cơ quan chuyên môn của UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, trong công tác chuẩn bị kỳ họp HĐND.Có thái độ kiên quyết trước các báo cáo, đề án, tờ trình, dự thảo nghị quyết chuẩn bị sơ sài, thiếu căn cứ, không đạt yêu cầu.

- Quan tâm cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết về các nội dung cần quan tâm thẩm tra cho thành viên Ban nghiên cứu phục vụ thẩm tra. Thành viên Ban cần phải nắm chắc chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của pháp luật và nghị quyết của cấp ủy địa phương liên quan đến nội dung thẩm tra. Chủ động  nghiên cứu kỹ hồ sơ, tài liệu các báo cáo, đề án và tờ trình, dự thảo nghị quyết đã được gửi trước để thẩm tra.

- Trong thẩm tra cần tuân thủ trình tự thẩm tra; đảm bảo thành phần tham dự thẩm tra; lựa chọn phương pháp thẩm tra phù hợp; chủ trì điều hành thẩm tra cần gợi mở những vấn đề, nội dung quan trọng cần thẩm tra và ưu tiên điều kiện và thời gian thẩm tra nội dung đó; kết quả thẩm tra cần phân tích, đánh giá một cách toàn diện, khách quan kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân khách quan, chủ quan của những hạn chế tồn tại, xác định những giải pháp cơ bản chủ yếu để giải quyết; những kiến nghị cụ thể đối với UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan.

- Đối với những vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau, cần trao đổi với lãnh đạo UBND bàn bạc giải quyết. Khi cần thiết xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy địa phương, nhất là những vấn đề lớn, quan trọng cần có sự thống nhất trong nhận thức và tổ chức thực hiện.

- Sau thẩm tra tổng hợp hoàn chỉnh báo cáo thẩm tra đầy đủ, thể hiện rõ trách nhiệm, quan điểm, chính kiến của thành viên Ban trong thẩm tra, các phần mục phải rõ ràng, nội dung nào nhất trí, nội dung nào có ý kiến khác nhau và khác nhau ở điểm nào, nội dung nào chưa nhất trí hoặc không nhất trí, lý do, nội dung nào cần sửa đổi, bổ sung hoặc thảo luận, trao đổi tiếp, để các đại biểu HĐND quan tâm cho ý kiến.

4.5. Đảm bảo điều kiện phục vụ thẩm tra

- Văn phòng HĐND và UBND cần phân công lãnh đạo Văn phòng phụ trách tham mưu, phục vụ hoạt động của HĐND. Bố trí chuyên viên chuyên trách giúp việc cho HĐND.

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo các điều kiện về phương tiện, vật chất, kinh phí phục vụ hoạt động  của các Ban HĐND. Tổ chức phục vụ chu đáo các hoạt động giám sát, thẩm tra của Pháp chế HĐND.

5. Một số kiến nghị

- Đề nghị Quốc hội sớm nghiên cứu, ban hành Luật Giám sát của HĐND, làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động giám sát, thẩm tra của các cơ quan dân cử ở địa phương. Trong đó quy định rõ hơn công tác thẩm tra của HĐND; quy định cụ thể hơn trách nhiệm của Thường trực HĐND đối với các hoạt động thẩm tra của các Ban HĐND; bổ sung các quy định về trách nhiệm của UBND, các cơ quan trong việc soạn thảo và trình kỳ họp HĐND các báo, đề án trình HĐND.

- Để tăng cường chất lượng hoạt động của HĐND nói chung và hoạt động giám sát, thẩm tra nói riêng, các quy định của pháp luật cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng tăng số lượng đại biểu HĐND, nhất là đại biểu chuyên trách, giảm đại biểu công tác trong các cơ quan hành chính; quy định trưởng, phó các Ban HĐND cấp huyện làm việc chuyên trách; tăng số lượng chuyên viên giúp việc Thường trực và các Ban HĐND.

- Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm hoạt động cho đại biểu HĐND, nhất là các đại biểu hoạt động chuyên trách, chuyên viên Văn phòng giúp việc HĐND. 

Lượt xem: 919

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.