Giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát trên lĩnh vực kinh tế và ngân sách

Riêng đối với lĩnh vực kinh tế và ngân sách, nâng cao chất lượng giám sát đòi hỏi các thành viên Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND Thành phố, thành viên Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã phải nghiên cứu, nắm chắc các nội dung về lĩnh vực kinh tế, ngân sách. Công tác chuẩn bị trước giám sát được chú trọng vì nhiều nội dung giám sát trên lĩnh vực kinh tế, ngân sách có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản, nghị quyết, hướng dẫn, quyết toán… của cấp trên.

Thực hiện Đề án số 04-ĐA/TU ngày 19/12/2013 của Ban Thường vụ Thành ủy và chỉ đạo của Thường trực HĐND Thành phố, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND Thành phố đã tổ chức hội nghị với Ban Kinh tế - Xã hội HĐND quận, huyện, thị xã  để trao đổi về chủ đề “Kỹ năng, kinh nghiệm giám sát trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách”.

Đoàn giám sát của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND TP khảo sát trực tiếp dây chuyền xử lý rác thải tại Khu xử lý rác Xuân Sơn (Sơn Tây)

Hội nghị thống nhất đánh giá lĩnh vực kinh tế và ngân sách bao hàm các nội dung rộng, phức tạp, đòi hỏi trình độ chuyên môn sâu, vấn đề nổi cộm, dân sinh bức xúc nhiều. Hoạt động giám sát của ban Kinh tế - Ngân sách HĐND Thành phố và Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã trong thời gian qua cơ bản đã xác định đúng vấn đề, đúng trọng tâm, nội dung, đối tượng cần giám sát; tổ chức giám sát công khai, sát dân, sát cơ sở. Qua hoạt động giám sát đã chỉ rõ nguyên nhân, trách nhiệm của từng ngành, từng cấp và người đứng đầu đối với nội dung cụ thể; trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp, tiến độ giải quyết dứt điểm các vấn đề.

Tuy nhiên, giám sát của các ban mới chủ yếu tập trung vào giám sát qua hoạt động thẩm tra và giám sát qua việc thành lập các đoàn giám sát. Giám sát việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp còn hạn chế. Hoạt động giám sát của Ban Kinh tế - Xã hội ở các quận, huyện, thị xã chưa đều, chưa toàn diện và bao quát hết những vấn đề nổi cộm, bức xúc ở địa phương thuộc lĩnh vực của ban; việc tái giám sát chưa nhiều; kết quả giám sát còn hạn chế.

Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của các Ban HĐND được xác định cần quan tâm cả giám sát thường xuyên và giám sát chuyên đề; giám sát tại kỳ họp và giám sát ngoài kỳ họp; sử dụng linh hoạt, kết hợp các hình thức giám sát. Đối với hình thức giám sát bằng việc thành lập đoàn giám sát, trên cơ sở chương trình giám sát của HĐND, sự điều hòa, phối hợp của Thường trực HĐND thì việc lực chọn đúng nội dung, đối tượng, thời gian, hình thức giám sát và thành phần đoàn giám sát có ý nghĩa quan trọng đến thành công của hoạt động giám sát. Xác định rõ mục tiêu đạt được của đợt giám sát để thúc đẩy công việc tốt hơn, hiệu quả hơn; qua giám sát phát hiện tốt thì nhân rộng, xấu thì chấn chỉnh và khó khăn thì tháo gỡ.

Trước khi tiến hành giám sát cần chuẩn bị kỹ căn cứ pháp lý, thông tin liên quan từ báo chí, cử tri, dư luận và nội dung, đề cương yêu cầu đối tượng được giám sát báo cáo. Giám sát tại đơn vị cần kết hợp nghe báo cáo với khảo sát thực tế tại thực địa (đối với nội dung có thể kiểm tra tại thực địa); hoặc có thể phân nhỏ đoàn đi kiểm tra, cử bộ phận chuyên viên giúp việc làm việc thêm sau đó.

Thông báo kết luận giám sát phải được đánh giá khách quan, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế, thiếu sót, nguyên nhân; các kiến nghị tuân thủ đúng pháp luật, rõ nội dung, trách nhiệm tổ chức thực hiện và thời hạn giải quyết. Sau khi ban hành văn bản kết luận, kiến nghị giám sát cần phân công lãnh đạo, bộ phận giúp việc theo dõi, đôn đốc kết quả thực hiện. Trong trường hợp thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát chậm hoặc không có chuyển biến tích cực thì tổ chức tái giám sát để rà soát, nắm bắt lại xem các kết luận, kiến nghị đã chính xác, khả thi chưa, và có giải pháp đôn đốc thực hiện. Nếu việc đôn đốc vẫn chưa hiệu quả thì có thể đề xuất để Thường trực HĐND giám sát hoặc đưa ra chất vấn tại kỳ họp HĐND, đưa vào nghị quyết HĐND.

Riêng đối với lĩnh vực kinh tế và ngân sách, nâng cao chất lượng giám sát đòi hỏi các thành viên Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND Thành phố, thành viên Ban Kinh tế - Xã hội HĐND các quận, huyện, thị xã phải nghiên cứu, nắm chắc các nội dung về lĩnh vực kinh tế, ngân sách. Công tác chuẩn bị trước giám sát được chú trọng vì nhiều nội dung giám sát trên lĩnh vực kinh tế, ngân sách có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản, nghị quyết, hướng dẫn, quyết toán… của cấp trên. Đối với một số nội dung giám sát có tính chuyên đề như liên quan đến ngân sách, đầu tư, tài nguyên môi trường, khoa học công nghệ… có thể mời thêm các chuyên gia, nhà khoa học tham gia đoàn giám sát.

Lĩnh vực giám sát kinh tế, ngân sách cùng đòi hỏi sự phối kết hợp giữa đoàn giám sát và đơn vị được giám sát cần chặt chẽ, thường xuyên thông qua việc gửi đề cương, kế hoạch giám sát; báo cáo giám sát; các vấn đề cần làm rõ; báo cáo giải trình; kết luận giám sát; báo cáo kết quả thực hiện… Trong đó, đối với những vấn đề trong giám sát còn có ý kiến khác nhau thì cần phối hợp để làm rõ, đi đến thống nhất hoặc các bên phải có chứng lý thuyết phục để bảo lưu quan điểm.

Kết luận giám sát lĩnh vực kinh tế, ngân sách thường liên quan đến nhiều đối tượng, được cử tri và nhân dân quan tâm, do đó cần có sự công khai qua các phương tiện thông tin đại chúng, gửi tới các cơ quan có trách nhiệm để báo cáo, chỉ đạo và triển khai thực hiện…

Mời xem Báo cáo kết quả hội nghị chuyên đề giữa Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND Thành phố với Ban Kinh tế - Xã hội HĐND quận, huyện, thị xã.

QUỐC THỊNH 

 

Lượt xem: 588

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.