Hiến pháp phải định hướng rõ chức năng, vai trò, tổ chức và nhiệm vụ trọng yếu của HĐND

Bản Dự thảo Hiến pháp có điểm mới là không quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND mà để mở việc thành lập HĐND và UBND sẽ do luật định. Nhưng nếu không hiến định chính quyền địa phương bao gồm HĐND và UBND, thì có thể là bước lùi về dân chủ so với các hiến pháp trước đây. UBND không hiến định do HĐND bầu ra thì làm sao là cơ quan chấp hành của HĐND.

 

Nguyễn Hoài Nam

Trưởng ban Pháp chế HĐND TP Hà Nội

Chương IX Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 về “Chính quyền địa phương” nhiều nội dung chưa rõ, tuy sau này sẽ có luật cụ thể hóa, nhưng cũng như thiết chế về Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ cũng sẽ có luật, do vậy Hiến pháp cũng cần hiến định những nguyên tắc, định hướng lớn về Chính quyền địa phương - một cấu thành quan trọng của nhà nước ta, nhất quán quan điểm nhà nước của dân, do dân, vì dân và mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân như Điều 2 của bản Dự thảo đã nêu.

Chương này đúng ra thiết kế phải gắn chặt với Chương V về Quốc hội, trực tiếp là Khoản 6 Điều 79 về nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chương VII về Chính phủ, trực tiếp là Khoản 2 Điều 101 về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ trong bản Dự thảo sửa đổi. Tên của chương là Chính quyền địa phương, nhưng không có điều khoản nào nêu khái niệm chính quyền địa phương.

Bản Dự thảo có điểm mới là không quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND mà để mở việc thành lập HĐND và UBND sẽ do luật định. Nhưng nếu không hiến định chính quyền địa phương bao gồm HĐND và UBND, thì có thể là bước lùi so với các hiến pháp trước đây. UBND không hiến định do HĐND bầu ra thì làm sao là cơ quan chấp hành của HĐND. Và nếu không tổ chức HĐND thì UBND cùng cấp không còn là cơ quan chấp hành mà chỉ là cơ quan hành chính thì lại mâu thuẫn ngay Khoản 2 Điều 116 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992.

Tuy không quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND và UBND nhưng Hiến pháp cũng cần phải định hướng rõ chức năng, vai trò, tổ chức và nhiệm vụ trọng yếu của HĐND, làm cơ sở cụ thể hóa trong luật định, quan trọng hơn là không làm mất đi quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ quan đại diện.

Về Điều 116, HĐND cần được quy định ở riêng một điều, Khoản 1 khẳng định vị trí, vai trò và bổ sung về tổ chức của HĐND như bố cục của QH, Khoản 2 Hiến định những nhiệm vụ trọng yếu của HĐND. Do vậy, Điều 116 viết như sau:

“1. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Hội đồng nhân dân có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các ban, số lượng Phó chủ tịch và thành viên các ban; phê chuẩn các chức danh do Hội đồng nhân dân cấp dưới bầu ra theo luật định,

2. Hội đồng nhân dân quyết định các biện pháp bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, các vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước tại địa phương”

Thêm một điều:

“1. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân bầu ra và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.

Uỷ ban nhân dân có Chủ tịch, Phó chủ tịch và một số ủy viên, số lượng các Phó chủ tịch, ủy viên và phê chuẩn các chức danh của Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cấp dưới bầu ra do luật định.

2. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các thành viên Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân và chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ được giao trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”

Về Điều 117, 118: ngoài quy định các quyền, trách nhiệm của đại biểu HĐND, cần hiến định trách nhiệm của nhà nước trong bảo đảm cho đại biểu thực hiện các quyền và trách nhiệm như của đại biểu QH, dù là ở cấp độ địa phương: quyền được cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức giải quyết công việc của dân, như Khoản 3 Điều 85; nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu, như Khoản 3, Điều 87./.

Lượt xem: 388

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.