Hiện tượng Lê Hiếu Đằng và quy luật đào thải

Những ngày qua, chuyện ông Lê Hiếu Đằng - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh - cùng vài người lớn tiếng tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, xem ra chỉ là "mua vui một vài trống canh" cho mấy trang mạng xã hội cùng trang tin điện tử và dăm ba đài nước ngoài lâu nay vẫn thù địch, chống phá Đảng Cộng sản.

Những ngày qua, chuyện ông Lê Hiếu Đằng - nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam TP Hồ Chí Minh - cùng vài người lớn tiếng tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam, xem ra chỉ là "mua vui một vài trống canh" cho mấy trang mạng xã hội cùng trang tin điện tử và dăm ba đài nước ngoài lâu nay vẫn thù địch, chống phá Đảng Cộng sản.

 

Điều mà chúng tôi nói "mua vui" đến nực cười ở đây là: Một việc quá bình thường của quá trình đào thải lại được ồn ã thổi phồng lên thành "sự kiện xin ra khỏi Đảng" của những người được tán dương, tung hô như những "anh hùng", những "chiến sĩ dũng cảm", "có lương tâm, lòng tự trọng", dám đứng lên đấu tranh cho dân chủ…(?!).

Tuy nhiên, "sân khấu" được dựng lên cũng đã đến hồi hạ màn bởi dù họ đã tốn công sức với thứ tư duy bóp méo, nhào nặn, với lòng hận thù nhưng tất cả vẫn lạc lõng trong dòng chảy cuồn cuộn của hiện thực xã hội. Những chiêu trò, luận điểm cũ rích dù được "dán" mác mới mà ông Lê Hiếu Đằng được coi là "hình mẫu", "nhân vật tiên phong", hay "nhân vật tiêu biểu" cũng không thể đánh lừa được dư luận. Chỉ tiếc cho một số người được tung hô, tán dương (hoặc tự tung hô, tự tán dương!) không hay biết hoặc có biết nhưng vẫn "tự thỏa mãn" việc bị lợi dụng, kích động, "tự thỏa mãn" vai trò con rối trong tay người khác.

Trở lại với câu chuyện ông Lê Hiếu Đằng tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam. Việc đó có gì là lạ đâu! Một đảng viên đã có hơn 40 năm tuổi Đảng, đã có hơn nửa cuộc đời sống, chiến đấu và làm việc theo lý tưởng của Đảng, mà tới giờ như lý do ông tuyên bố là Đảng không còn như trước, chỉ là Đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc(!?). Có lẽ đó là kết cục như mấy tháng trước nằm trên giường bệnh, ông đã công bố "Suy nghĩ", rồi viết "Thư ngỏ" mà rằng sẽ phải "thanh toán", "tính sổ" lại tất cả. Lúc ốm đau bệnh tật, nhất là tuổi đã cao, con người ta không sáng suốt trong suy nghĩ, trong phát ngôn âu cũng là lẽ thường. Nhưng liệu đó có là cái cớ để ông dùng những cụm từ như các tay "anh chị" trong giới "xã hội đen" vẫn thường sử dụng? Thực chất thì mọi chuyện đều lôgíc chặt chẽ với nhau và việc tới giờ ông tuyên bố ra khỏi Đảng cũng là chuyện bình thường, hết sức bình thường. Sau ngồn ngộn những gì ông nghĩ, ông nói, ông viết về Đảng Cộng sản Việt Nam thì rõ ràng ông không còn xứng đáng đứng trong đội ngũ của những người quyết tâm suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân. Và Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không thể giúp ông thỏa mãn những "nguyện vọng cá nhân" như cách tư duy lệch lạc của ông. Và như vậy, tất cả những người có lương tâm, tư duy trong sáng đều hiểu: Đó là hệ quả tất yếu của sự bất mãn. Mà bất mãn trong mọi trường hợp đều là hệ quả của những đòi hỏi mang tính cá nhân không được thỏa mãn! Nhưng một Đảng cầm quyền có 80 năm trưởng thành (hiện nay có hơn 4 triệu đảng viên), chiến đấu không mệt mỏi vì hạnh phúc của nhân dân, vì độc lập, tự do của dân tộc, gặp vô vàn khó khăn gian khổ do thù trong giặc ngoài gây ra, thì việc có một số đảng viên bất mãn vì mục đích cá nhân không được đáp ứng, cũng không có gì là ngạc nhiên. Bởi lẽ, đó là một quá trình đào thải mang tính quy luật. 

Quy luật đào thải những đảng viên biến chất như vậy hoàn toàn không có nghĩa là Đảng Cộng sản Việt Nam không còn xứng đáng với vị trí, vai trò là Đảng cầm quyền. Trong quá trình phát triển và trưởng thành của bất cứ một tổ chức, chính đảng nào thì việc kết nạp - giáo dục - rèn luyện và kỷ luật - khai trừ, thải loại, là mối gắn kết biện chứng, có quan hệ mật thiết và không thể xem nhẹ bất cứ mặt nào. Đó là sự đào thải tất yếu để phát triển. Chặng đường hơn 80 năm qua của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ ngày thành lập tới nay, cùng với sự củng cố, lớn mạnh không ngừng của đội ngũ đảng viên thì vấn đề kỷ luật trong Đảng luôn được nêu cao và giữ vững. Và chính điều đó làm nên sức mạnh của các tổ chức, cơ sở đảng, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh. Vậy nên nói, một số người không còn thấy mình xứng đáng ở trong đội ngũ của Đảng, xin ra khỏi Đảng, hay việc khai trừ, kỷ luật đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm cũng là hết sức bình thường. 

Tại Điều 1 - Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: "Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng". Với những tiêu chuẩn đó, những đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đã bị thi hành kỷ luật. Ngay cả những đảng viên giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị, nhưng không giữ được tư cách đảng viên cũng đã bị xử lý kỷ luật khai trừ, cảnh cáo theo quy định của Đảng; hoặc bị xử lý bằng pháp luật đúng với tội danh đã phạm phải. Điểm lại, năm 2011 cũng có trên 13.000 đảng viên đã bị xử lý kỷ luật với các mức độ khác nhau; năm 2012 con số đó là trên 15.000 đảng viên. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" được ban hành cũng là để tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Điều đó là hết sức cần thiết và trong quá trình làm trong sạch Đảng, sự đào thải là tất yếu để phát triển. Một bộ phận thể hiện sự suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; tỏ rõ quan điểm trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, có hành vi làm trái nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thậm chí có người "sám hối", "trở cờ" như ông Lê Hiếu Đằng thì liệu họ có còn xứng đáng đứng trong hàng ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam? Hơn nữa, sự "trở cờ" như ông Lê Hiếu Đằng không chỉ phủ nhận tất cả những thành tựu vô cùng to lớn của Đảng trong suốt 80 năm qua là đã lãnh đạo toàn dân đấu tranh chống giặc ngoại xâm giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, mà còn phủ nhận chính lý tưởng và những năm tháng công tác của ông trong đội ngũ tiên phong của dân tộc. Sự phủ nhận và tự phủ nhận sạch trơn đó, chắc hẳn ông Đằng đã có câu trả lời trước khi tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: "Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân". Thế nên, trường hợp của ông Lê Hiếu Đằng và một vài người tuyên bố ra khỏi Đảng cũng đâu có gì là lạ? Hãy để ý xem những người tung hứng, tán dương kiểu phát ngôn hằn học của ông, hoan hô ông trong việc kêu gọi "thành lập đảng đối lập", hô hào "một cuộc khởi đầu mới", rồi dành cho ông những cụm từ mỹ miều như "trở về với nhân dân", "hành động tạo tiếng vang"… xem họ là ai? Cũng vẫn là những "nhân vật" quen thuộc với một số chiêu trò trong vài năm qua cả thôi. Khác chăng là lần này họ đặt ông vào vị trí trung tâm của "sân khấu" để lên tiếng chỉ trích, bôi nhọ, phủ nhận vai trò cùng những thành tựu đất nước đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; cho rằng Đảng không còn giữ được bản chất một đảng vì dân, một đảng cách mạng; rồi họ hò la, thổi phồng lên quan điểm cần phải đa nguyên, đa đảng, la lối đòi dân chủ, quyền con người… Điều đó được một số đài nước ngoài và một vài trang mạng xã hội vốn luôn có thái độ thù địch với chế độ ta lập tức chớp cơ hội, "tiếp âm", "khuếch đại", dùng những thủ thuật "kẻ tung, người hứng" để đẩy một chuyện hết sức bình thường trở thành "sự kiện có tầm cỡ", coi đó là "dư luận", là "công chúng", là "ý chí của số đông". Chiêu trò lỗi thời này không lừa dối được ai khi chính trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện hàng trăm, hàng nghìn ý kiến hồi âm, phản bác, vạch rõ chân tướng, thủ đoạn của những "nhà dân chủ" giả hiệu. Phải chăng chỉ có ông Lê Hiếu Đằng và một số người là không đủ tỉnh táo để nhận ra điều đó. Thế nên, thật đáng tiếc cho một người từng có hơn 40 năm đi theo Đảng, một người vốn là luật gia, từng "khoe" có đọc nhiều sách triết học "đông tây kim cổ"..., rồi từng giảng dạy ở Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ!

Trượt dài trong nhận thức, tư duy sai lầm, lệch lạc; bị bao phủ trong "ánh hào quang" của "chiếc áo" dân chủ do những kẻ dàn dựng sân khấu tạo ra, ông Lê Hiếu Đằng và một số người không còn đủ tỉnh táo để suy ngẫm về những phân tích, góp ý chân thành của những người bạn thân thiết, những người đồng chí, đồng đội vốn đã đồng hành cùng ông trên chặng đường dài hơn nửa đời người, những người đã vào sinh ra tử chiến đấu vì lý tưởng cộng sản, vì hạnh phúc của nhân dân. Chính vì vậy, những người như ông Lê Hiếu Đằng không còn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng sản Việt Nam. Dù họ có cố tình to tiếng tuyên bố "từ bỏ Đảng" bằng cách này hay cách khác để đánh bóng mình chăng nữa, dù Đảng Cộng sản Việt Nam chưa tuyên bố khai trừ họ, thì bản chất họ vẫn là những người bị thải loại trong quá trình đào thải để Đảng Cộng sản ngày càng trong sạch, vững mạnh mà thôi.

Trên con đường phát triển, loại bỏ khỏi Đảng những người cơ hội, mưu cầu thỏa mãn cái tôi cá nhân, thoái hóa biến chất là việc rất cần thiết để giữ vững và phát huy bản chất cách mạng của Đảng, tiếp tục củng cố sức mạnh của Đảng để lãnh đạo đất nước và dân tộc tiến lên phía trước. Vì vậy chuyện ông Lê Hiếu Đằng và một số người tuyên bố ra khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam không có gì phải ngạc nhiên.

Hoàng Thu Vân/hanoimoi.com.vn

Lượt xem: 263

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.