Hiệu quả giám sát - từ thực tế HĐND thành phố Hà Nội

Giám sát là để làm rõ đúng - sai, làm rõ những vấn đề vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện, có khi qua giám sát sẽ dẫn đến xóa bỏ cơ chế, chính sách nào đó không phù hợp pháp luật và thực tiễn... Để hoạt động giám sát của HĐND có hiệu quả cao, bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, pháp luật được thực thi nghiêm túc, cần nhiều giải pháp.

Giám sát là để làm rõ đúng - sai, làm rõ những vấn đề vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện, có khi qua giám sát sẽ dẫn đến xóa bỏ cơ chế, chính sách nào đó không phù hợp pháp luật và thực tiễn... Để hoạt động giám sát của HĐND có hiệu quả cao, bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, pháp luật được thực thi nghiêm túc, cần nhiều giải pháp.

Giám sát là để làm rõ đúng - sai

Thời gian qua, hoạt động giám sát của HĐND thành phố Hà Nội có nhiều chuyển biến tích cực, chất lượng, hiệu quả ngày càng được nâng lên rõ rệt, góp phần tích cực vào việc giải quyết nhiều vướng mắc, tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý của địa phương. Tuy nhiên, một số vấn đề làm cho hoạt động giám sát của HĐND các cấp vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của cử tri và nhân dân. Những tồn tại, hạn chế đó xuất phát từ căn cứ pháp lý quy định về chức năng giám sát chưa đầy đủ, chưa hoàn chỉnh, vẫn còn chung chung, mang tính định hướng, không có chế tài cụ thể sau giám sát; các điều kiện bảo đảm tính hệ thống, tính đồng bộ để thực hiện thống nhất chức năng giám sát của HĐND còn vướng mắc, như: Thường trực HĐND có phải là một cơ quan không? Tổ đại biểu, đại biểu HĐND muốn giám sát thì tổ chức thế nào, cơ quan nào tham mưu, phục vụ, phạm vi, đối tượng giám sát? Các điều kiện kinh phí, trang bị, phương tiện phục vụ cho hoạt động của Thường trực, các ban HĐND còn gặp nhiều khó khăn, nhất là ở cấp huyện và cấp xã…

Hiện nay, đa số đại biểu HĐND kiêm nhiệm, kỹ năng hoạt động, trình độ chuyên môn trong một số lĩnh vực còn hạn chế, lại thiếu thông tin. Một số đại biểu, nhất là đại biểu kiêm nhiệm còn ngại va chạm, không dám thể hiện rõ quan điểm về đúng, sai. Trách nhiệm cung cấp thông tin, thực hiện chế độ báo cáo của UBND các cấp và các cơ quan chuyên môn của UBND cũng còn hạn chế, thường thiếu và chậm theo quy định; chất lượng các đề án, tờ trình, báo báo, dự thảo nghị quyết chưa cao. Việc phối hợp với các cơ quan, đoàn thể trong hoạt động giám sát mới dừng lại ở hình thức mời đại diện tham gia đoàn giám sát mà chưa yêu cầu trao đổi, cung cấp thông tin tài liệu… Bên cạnh đó, đại biểu, các ban HĐND, cơ quan Văn phòng tham mưu, tổng hợp giúp HĐND phân loại, xác định tính xác thực của thông tin, tài liệu từ cử tri, các cơ quan báo chí… phản ánh, cung cấp còn hạn chế.

Giám sát là làm rõ đúng hoặc sai, làm rõ những vấn đề vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện, có khi qua giám sát sẽ dẫn đến xóa bỏ cơ chế, chính sách nào đó không còn phù hợp pháp luật và thực tiễn; xử lý trách nhiệm đối với tập thể và cá nhân… Thực tế, có địa phương nội dung HĐND chọn để giám sát rất trúng và rất đúng nhưng lại không được đưa vào Nghị quyết về chương trình giám sát hàng năm? Vấn đề này thật khó, vì nếu cấp ủy cùng cấp chưa thể hiện rõ quan điểm lãnh đạo thì HĐND cũng không thể tự triển khai giám sát những lĩnh vực nhạy cảm, cho dù lĩnh vực đó cử tri và nhân dân kiến nghị, mong đợi…

Cần nhiều giải pháp đồng bộ

Thực tế trên cho thấy, để hoạt động giám sát của HĐND có hiệu quả cao, bảo đảm cho các quy định của Hiến pháp, pháp luật được thực thi nghiêm túc, trước hết cần xác định trúng và đúng vấn đề cần giám sát. Hoạt động của chính quyền có rất nhiều nội dung, nếu giám sát tất cả là điều không thể làm được, cách làm đó sẽ hình thức và không hiệu quả. Vì vậy, xác định thứ tự ưu tiên, chọn đúng và trúng để định rõ nội dung cần giám sát, quy mô giám sát rất quan trọng. Nếu không biết chọn trọng tâm mà chỉ dàn trải các hoạt động giám sát về bề mặt sẽ dẫn đến tình trạng nói để làm ví dụ răn đe, thiếu tính xây dựng, không làm cơ quan chấp hành hợp tác để đạt mục đích chung tốt hơn.

Có một thực tế là nhiều khi các lợi ích đan xen, xung đột với nhau thì nên xác định ưu tiên tập trung giám sát lĩnh vực nào? Cần tập trung giám sát những vấn đề đa số cử tri quan tâm, như: những chương trình, dự án có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân; các vấn đề liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước; việc phân cấp, phân quyền; tài chính công tương ứng với việc phân cấp, phân quyền; chính sách một cửa; việc quản lý đất đai; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí... Với từng nội dung giám sát, đoàn giám sát cũng phải đưa ra những yêu cầu cụ thể, ví dụ: đã làm được gì, chưa làm được gì, tại sao, ai chịu trách nhiệm?…

Thứ hai, trong giám sát phải xác định rõ trách nhiệm và phân công cụ thể nhiệm vụ cho đại biểu là thành viên; chú trọng công tác nắm bắt thông tin, phối hợp, hợp tác. Hai vấn đề khi giám sát thường mắc là tham gia quá sâu hoặc tham gia chưa đầy đủ. Nếu tham gia quá sâu sẽ làm giảm thẩm quyền và trách nhiệm đơn vị thực thi chính sách; tham gia chưa đầy đủ lại bị nhìn nhận là trốn tránh trách nhiệm đại biểu. Cả hai đều làm cản trở tiến trình thực hiện công việc, do đó đại biểu phải nhận thức đầy đủ để không mắc lỗi.

Hoạt động giám sát của HĐND là một công cụ quyền lực mang tính chất tập thể, do đó phải được tất cả các thành viên trong đoàn giám sát tham gia; và nên chú trọng mời chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên sâu tham gia. Đại biểu HĐND khi giám sát luôn biết rằng xung đột là điều tất yếu, nhất là đối với những chính sách và ý tưởng mới. Với nhận thức như vậy, thì sự bất đồng hoặc hiểu khác nhau khi thực thi là một dấu hiệu lành mạnh chỉ ra rằng, công việc đang tiến triển và mọi người đang tiếp cận theo các lựa chọn thực tế khác nhau. Chính vì nó tất yếu, nên người đại biểu dân cử trong vai trò giám sát phải dự liệu trước cách thức quản lý xung đột để giúp cơ quan chấp hành tự giải quyết xung đột…

Kinh nghiệm từ những cuộc giám sát thành công của HĐND thành phố Hà Nội cho thấy, để giám sát đạt hiệu quả cao thì trước khi tổ chức giám sát cần có thông tin kịp thời và xác thực. Các cuộc giám sát thành công đều bắt đầu từ việc nắm chắc thông tin và các quy định của pháp luật; có vai trò, trách nhiệm rất cao của người chủ trì cuộc giám sát. Bên cạnh đó, đại biểu phải biết lắng nghe thông tin từ cử tri và phân tích, đánh giá tính chính xác của thông tin, đối chiếu với các quy định pháp luật để xem xét vấn đề một cách toàn diện trước khi bày tỏ quan điểm.

Giữa cơ quan dân cử và các đoàn thể chính trị, xã hội cần có sự phối hợp thường xuyên, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và trên cơ sở sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương. HĐND và UBND là hai trong một thực thể thống nhất là: Chính quyền địa phương. Tuy nhiên, hai cơ quan này hoàn toàn độc lập về chức năng. Được trao quyền giám sát, đại biểu HĐND còn phải tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ từng cơ quan, để có quan điểm tiếp cận việc phân công thực hiện các quy định của pháp luật giữa HĐND và UBND, từ đó cùng chủ động tháo gỡ các cản trở trong quá trình xây dựng và phát triển KT-XH, bảo đảm an ninh quốc phòng ở địa phương.

Thứ ba, Thường trực HĐND phải phát huy được vai trò là trung tâm chỉ đạo điều hành phối hợp hoạt động giám sát. Trong giám sát cần có sự phối hợp giữa Thường trực với các ban HĐND và giữa các ban HĐND với nhau. Luật Tổ chức HĐND và UBND, Quy chế hoạt động của HĐND không quy định cụ thể về vấn đề này mà chỉ quy định về việc hàng quý, Thường trực tổ chức họp với Trưởng ban, Phó trưởng ban để phối hợp hoạt động giám sát, đánh giá tình hình và kết quả hoạt động giám sát. Thực tiễn đòi hỏi ngoài trách nhiệm chủ trì điều hành các cuộc giám sát của HĐND, Thường trực cũng cần trao đổi với các ban về kinh nghiệm hoạt động giám sát.

Đối với các ban HĐND, theo quy định các ban có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng khi tiến hành giám sát chuyên đề lại có những vấn đề liên quan và cần thiết phải phối hợp với nhau. Ví dụ, giám sát việc thực hiện Nghị quyết về chương trình xây dựng nông thôn mới là lĩnh vực của Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND. Nhưng trong 19 tiêu chí nông thôn mới, có tiêu chi thuộc lĩnh vực chuyên sâu của Ban Văn hóa - Xã hội và Ban Pháp chế. Nếu các ban HĐND tăng cường phối hợp thì cuộc giám sát mới đạt kết quả toàn diện. Hoặc, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, cùng với Ban Pháp chế giám sát việc thi hành pháp luật, Ban Kinh tế - Ngân sách HĐND cũng có trách nhiệm phối hợp, vì lĩnh vực giám sát liên quan đến tài nguyên, nằm trong nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Kinh tế - Ngân sách...

Cuối cùng, phải rất lưu ý giám sát việc thực hiện kết luận sau giám sát, xét thấy cần thiết phải tổ chức tái giám sát. Hầu hết các trường hợp giám sát hiệu quả của một chính sách đều phải giám sát hiệu quả thực tế trong quá trình thực hiện (giám sát sau quyết định); nhưng rồi kết quả giám sát này lại trực tiếp phục vụ hình thành quyết định mới. Hiệu quả của chính sách khó đánh giá hơn, vì nó liên quan tới việc đánh giá xem nhà hoạch định chính sách lựa chọn phù hợp với nhu cầu thực tế trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm hay không. Để có kết luận sau giám sát là cả một quá trình xem xét, đối chiếu, tư duy từ quy định của pháp luật đến thực tế của địa phương. Kết luận giám sát phải làm sao để đối tượng được giám sát tâm phục, khẩu phục để chấp hành nghiêm túc; sau giám sát phải đôn đốc thực hiện, khi xét thấy cần thiết thì tổ chức tái giám sát, có các kiến nghị cụ thể về trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan… Đây cũng là việc bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh; nâng cao trách nhiệm, uy tín, vị thế của HĐND nói riêng và của chính quyền địa phương.

Nguyễn Xuân Diên – Đại biểu HĐND TP,

Phó Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP Hà Nội

Lượt xem: 431

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.